Sự tồn tại của nền văn minh Khoa Đẩu

26.1.14 Add Comment
Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc với chữ viết Khoa Đẩu bị thất lạc và chính Khổng Tử đã dựa vào những kinh sách của chữ Khoa Đẩu để soạn lại bằng chữ Việt Nho - loại chữ thay thế chữ Khoa Đẩu với những kinh sách mà Khổng Tử đã dựa vào đó để soạn lại bằng chữ Việt.

Sau Trần Hưng Đạo, chỉ có Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Thánh Tướng

26.1.14 Add Comment
Theo tiêu chuẩn thời xưa, các vị tướng được đánh giá theo cấp bậc như sau: trước tiên là bậc Dũng Tướng, sau đó đến bậc Trí Tướng, cao hơn nữa là bậc Nhân Tướng và cuối cùng, cao cả nhất là bậc Thánh Tướng.

Ngậm ngùi tiếc nuối vì món quà dâng tặng Đại tướng chưa hoàn thành mà bác đã đi xa, Giáo sư sử học Lê Văn Lan, người vừa được tôn vinh “Công dân thủ đô ưu tú 2013” đã có những chia sẻ với về vị Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam bên lề lễ kỷ niệm 59 năm Ngày giải phóng Hà Nội.

Ông nói: “Cách đây hơn một năm, tôi và các đồng nghiệp có dự định tạc tượng Đại tướng, xem đó là món quà thành tâm dâng lên Người. Thông qua gia đình, Đại tướng đã biết tới dự án này. Nhưng thật buồn là chúng tôi chưa kịp hoàn thành thì Đại tướng đã ra đi rồi...
Trong lúc thai nghén, triển khai bước đầu dự án, chúng tôi đã thống nhất đặt tướng Giáp vào vị trí trung tâm giữa 4 danh tướng được thảo luận, lựa chọn để tôn vinh. Chúng tôi sẽ cố gắng sớm hoàn tất dự án này. Hy vọng ở nơi cao xa, Đại tướng sẽ mỉm cười”.
- Ở góc độ lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc hàng danh tướng nào thưa ông? 
Theo tiêu chuẩn thời xưa, các vị tướng được đánh giá theo cấp bậc như sau: trước tiên là bậc Dũng Tướng, sau đó đến bậc Trí Tướng, cao hơn nữa là bậc Nhân Tướng và cuối cùng, cao cả nhất là bậc Thánh Tướng.
Duy nhất có một danh tướng trong quá khứ của dân tộc đã đạt được tới hàng Thánh Tướng là Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chắc chắn là Dũng Tướng, Trí Tướng, Nhân Tướng rồi, nhưng giờ đây rất may, chúng ta đang được chứng kiến một hiện thực - sự chuyển hóa, hóa thân từ vị trí cao trong hàng danh tướng, Đại tướng đang dần trở thành Thánh Tướng.
Với việc những cựu chiến binh trên 90 tuổi lập đền thờ, người dân khắp nơi sùng kính, tôn thờ Đại tướng bằng mọi hình thức thiêng liêng, thánh thiện, rõ ràng đó là sự chuyển hóa của Đại tướng từ chỗ Nhân Tướng thành bậc Thánh Tướng ở thời đại chúng ta.
Như vậy, lịch sử đã có thêm một vị Thánh Tướng nữa.
- Điều gì mà lịch sử chưa tường tận, chưa nói hết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thưa ông?
Tôi thấy trăm nghìn vạn người bằng tất cả sự chân thành, sự xúc động đến tận đáy lòng, với sự huy động tất cả các khả năng của trí tuệ đã phát biểu rất đầy đủ, rất đúng đắn về các phương diện cuộc đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Nếu cần bổ sung, tôi nghĩ có một điều mà tôi đã trăn trở từ lâu, cũng là tâm nguyện của nhiều đồng chí lãnh đạo trong quá khứ, đó là: Nếu có một người duy nhất xứng đáng để được phong Nguyên soái thì đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Với độ lùi của thời gian, chúng ta hoàn toàn có thể dùng thuật ngữ này, danh hiệu này để tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đó là vị thầy, bậc tổ của học thuyết quân sự Việt Nam ở thời đại mới, học thuyết về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân.
Đó là vị trí, danh hiệu mà tôi tin rằng Đại tướng hoàn toàn xứng đáng được nhận.
- Theo ông điều gì đã giúp thầy giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp trở thành vị tướng quân sự tài ba?
Tôi muốn nhắc lại một câu của Karl Marx: “Trên đời này chỉ có một khoa học duy nhất là khoa học lịch sử”.
Từ chỗ duy nhất này hoàn toàn có thể triển khai, mở mang tới các lĩnh vực khác trong lịch sử, trong cuộc sống và trong cái thế giới mênh mang đầy rẫy bức xúc do nhu cầu, đòi hỏi như thế này. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một người đã làm được như thế.
- Vì sao Đại tướng chọn nơi yên nghỉ là Quảng Bình, nhưng không phải là nơi "chôn nhau cắt rốn", thưa ông?
Một truyền thống của dân tộc ta đã được đọng lại ở các nhân vật lớn đó là tấm lòng vì quê hương, tự thức rõ rệt về quê hương, bản quán.
Các bậc minh quân thời xưa hay đế vương khi băng hà đều có nhu cầu trở về quê cha đất tổ của mình, từ nhà Lý, nhà Trần tới nhà Lê... Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ở trong thế giới của những tâm trạng, suy tư, truyền thống đó.
Ông đã nhận Quảng Bình là quê ở cái mức rộng hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, cho nên một chỗ nào đó ở Quảng Bình cũng là đúng nguyện vọng của ông nói về quê hương rộng hơn của mình.
- Theo ông, con đường nào xứng đáng để đặt theo tên Đại tướng? 
Rồi sẽ phải chọn, nhưng các tiêu chuẩn đã được xác định rồi, chỉ cần lùa thực tế vào các tiêu chuẩn đó là được.
Tôi cho rằng đang có một cuộc bàn thảo, nhưng mọi người đều thống nhất là phải chọn một con đường to lớn, chính yếu, đẹp đẽ và có vị thế quan trọng để xứng với sự nghiệp, nhân cách của Đại tướng.
Tuy nhiên, không chỉ ngần ấy tiêu chuẩn, ta sẽ cần bổ sung nữa. Đó sẽ là cơ sở để chọn đường mang tên Đại tướng. Có một điều chắc chắn là phải theo các tiêu chuẩn ấy chứ không được tùy hứng, tùy tiện lựa chọn chỗ này, chỗ kia được.
- Kể từ khi nghe tin Đại tướng qua đời, hàng chục vạn người con ở khắp mọi miền Tổ quốc, thậm chí ở nước ngoài đã đến số nhà 30 Hoàng Diệu để viếng người anh hùng dân tộc này. Sự thành kính với tất cả tấm lòng này có ý nghĩa lịch sử gì thưa ông?
- Đó là tấm lòng của nhân dân. Tôn vinh bằng bia đá, bảng vàng thì cũng có lúc bia đá, bảng vàng mòn đi, nhưng sự tôn vinh của lòng dân thì vĩnh cửu, đẹp đẽ và mạnh mẽ nhất.
Dòng người đến viếng Đại tướng dài vô tận chính là minh chứng hùng hồn cho điều đó.
- Vậy còn ông, người con ưu tú của Thủ đô, trong bối cảnh hiện tại, người dân khắp cả nước đang rơi lệ tiễn đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nơi an nghỉ cuối cùng, khúc ruột miền Trung đang chìm trong bão lũ, tâm trạng của ông khi đón nhận danh hiệu này thế nào?
Đây là một hoàn cảnh đặc biệt với những người được vinh danh vào năm 2013. Trước đó, vào năm 2010, đồng đội, bạn bè của chúng tôi đón nhận danh hiệu vẻ vang này với tâm trạng tưng bừng, hồ hởi, 1000 năm Thăng Long mới có một ngày như thế. Năm nay quả là có nhiều sự khác biệt.
Nhưng mà chúng ta đã có câu rất hay: Trong cái khó ló cái khôn chứ không phải cái khó bó cái khôn. Tôi cho là chính trong hoàn cảnh đặc biệt của năm 2013 này, chúng tôi càng thấm nhuần câu nói của Đại tướng mà mấy ngày qua người ta nhắc đi nhắc lại nhiều: “Tôi sống ngày nào là sống vì Tổ quốc của tôi”.
Cá nhân tôi, thôi không dám theo như đồng chí Võ Đại tướng vĩ đại, tôi sống ngày nào cũng là vì Hà Nội yêu dấu của tôi.
Chúng tôi sẽ nhân việc khắc phục khó khăn trong hoàn cảnh này, càng thêm hiểu biết, nhận thức về công việc của mình – thứ từ lâu nay gần như vắt kiệt hết sức lực, tâm trí và khả năng của chúng tôi.
Trong bối cảnh vừa tưng bừng, vui vẻ, vừa khó khăn, buồn rầu như thế này, tôi cho rằng đây là dịp để 4 hạng mục công trình mình đã làm suốt bao nhiêu năm nay là viết, nói, làm các chương trình vô tuyến truyền hình, điện ảnh, là thành viên thuộc hội đồng thẩm định các dự án, tư vấn và thẩm duyệt các đề tài..., giờ tôi phải làm sao cho tốt hơn, mạnh mẽ hơn dù khó khăn đến mấy.
- Ông từng nói ông còn ba món nợ của đời mình với Thủ đô...
Thứ nhất, nợ Hà Nội – nơi đã hình thành, nuôi dưỡng, rèn tạo tôi thành nhà sử học như bây giờ.
Thứ hai là món nợ với những người không phải là Hà Nội gốc như tôi, nhưng họ đã đến với Hà Nội và đã làm được rất nhiều việc cho Hà Nội, thậm chí còn có những người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh như lời Bác Hồ từng nói. Tôi nợ các vị đó điều lớn lao ấy.
Thứ ba, tôi nợ cả những người giờ đang đến ngấu nghiến, khai thác Hà Nội để hưởng thụ những lợi ích cá nhân, cả những người coi Hà Nội là chỗ đất thánh để đến đây ăn chơi nhảy múa, đua xe chẳng hạn hay thi thố những việc rất không xứng đáng với Hà Nội.Tôi nợ những vị này ở chỗ chưa mang đến cho các vị ấy tình yêu, tình thương với Hà Nội, nhất là chưa mang đến được cho các vị ấy sự hiểu biết sâu sắc, đúng đắn về Hà Nội để họ xem thành phố - nơi lắng hồn núi sông ngàn năm, nơi đứng đầu cả nước trong bao nhiêu nghìn năm như thế này thì phải ứng xử với nơi này như thế nào. Tôi nợ các vị ấy ở chỗ đó.
- Ngoài những đóng góp trong thời gian qua, ông còn có những tâm nguyện nào muốn hoàn thành trước khi sức cùng, lực kiệt?
Trong cuộc hành trình từ nôi đến mộ của mình, tôi đã đi được phần lớn, nếu không muốn nói là sắp hết cuộc đời, tôi luôn sống vì công việc của mình với Hà Nội. Tôi sẽ cố gắng hoàn thành các dự án còn dang dở và cố gắng trả được phần nào 3 món nợ đời trên.
- Xin cảm ơn ông!
Theo VTC

Truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc Việt Nam

26.1.14 Add Comment
Truyền thống thạo nghề sông nước trong lòng một dân tộc kiên cường bất khuất, có giá trị sáng tạo liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập dân tộc được phát triển thành truyền thống thạo thủy chiến và liên tục được các thế hệ sau kế thừa, phát triển.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhấn mạnh: "Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xưa tới nay kẻ địch từ bên ngoài thường lợi dụng biển và sông để xâm lược nước ta. Và ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng, bất khuất. Thật vậy, trong những trang sử vẻ vang của mình kể từ khi Vua Hùng dựng nước, dân tộc ta đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông nước ta nói chung, trên sông, biển nước ta nói riêng”.
Truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc ta được hình thành và phát triển như là một tất yếu lịch sử. Tổ tiên ta thường sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, độ ẩm cao, sông ngòi chằng chịt, đầm hồ dày đặc, lắm đồi nhiều núi, lại có biển lớn bao bọc. Do vậy, nếp ăn, ở, đi lại, sinh hoạt... bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với sông nước. Những đội quân quen nghề sông nước và cơ động chủ yếu bằng thuyền đã ra đời một cách tự nhiên bên cạnh những đội quân bộ - hai bộ phận chủ yếu trong lực lượng vũ trang truyền thống của dân tộc ta. Đặc biệt, nghệ thuật "đặc công nước” đã xuất hiện từ sớm dưới dạng những người lính thủy giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hỏa công. Trong một tờ khải tâu lên Vua Tống góp bàn về việc tiến binh đánh nước ta, Triệu Bổ Chi đã viết: "Vả lại người Giao Chỉ giỏi thủy chiến. Từ xưa truyền lại rằng người Việt lội xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy biển 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc biển, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”. Một trong những người nổi tiếng trong lịch sử nước ta về nghệ thuật "đặc công nước” mà chúng ta đều biết đó là Yết Kiêu - gia nô trung thành và cận vệ đắc lực cho Trần Hưng Đạo. Ông đã cùng đồng đội dùi đắm nhiều thuyền của quân Nguyên và dùng mưu trí tự giải thoát khỏi sự bắt giữ của chúng.
Do đặc điểm địa hình phức tạp và truyền thống cư trú cũng như truyền thống giao thông của nước ta nên kẻ thù xâm lược nước ta, ở xa cũng như ở gần, thường cơ động bằng đường thủy, vừa nhanh chóng lại tiết kiệm được sức lực. Triệu Đà đánh nước Âu Lạc có Nhâm Ngao mang thuyền đậu ở Tiểu Giang. Năm 42, Mã Viện mang quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng có Đoàn Chí mang 2.000 thuyền đi theo. Trần Bá Tiên của nhà Lương mang quân đi đánh nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế cũng đi theo đường thủy. Năm 938, Hoằng Thao con Vua Nam Hán, cũng dùng một đạo quân thủy mò vào cửa Bạch Đằng. Năm 981, tướng Tống đánh Lê Hoàn cũng cử Lưu Trừng mang theo một đạo quân thủy. Năm 1077, nhà Tống lần nữa cử bọn Quách Quỳ mang hàng chục vạn quân xâm lược nước ta vẫn không quên kèm theo 200 chiến thuyền của Dương Tùng Tiên. Thế kỷ XIII, trong ba quân Mông - Nguyên sang xâm lược nước ta thì, chỉ trừ một lần đầu tiên từ Vân Nam xuống là không theo đường thủy, còn cả hai lần sau (1285, 1288) đều quan tâm xây dựng đội quân thủy đi kèm, với mức độ quân thủy ngày càng được chú trọng hơn. (Đáng chú ý, thuyền chiến của Đoàn Chí, của Trần Bá Tiên, của Hoằng Thao, của Lưu Trừng, của Dương Tùng Tiên và của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đánh quân Trần, tất cả đều hướng theo đường sông Bạch Đằng). Năm 1784, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm, thì lực lượng chính mà Xiêm giúp Nguyễn Ánh là 200 chiến thuyền với 30.000 quân thủy. Năm 1789, trong kế hoạch xâm lược nước ta, nhà Thanh chủ trương dùng một mũi quân thủy đánh vòng xuống Phú Xuân, cùng quân bộ của Tôn Sĩ Nghị ép quân Tây Sơn vào giữa. Vì kiêu căng, khinh địch, Tôn Sĩ Nghị đã không dùng mũi quân thủy này… Những tên xâm lược mới từ phương Tây (Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ) sang xâm lược Việt Nam trong hai thế kỷ vừa qua cũng không đứng ngoài quy luật đó.
Vì kẻ thù thường sử dụng quân thủy để xâm lược nước ta, cho nên chiến trường sông biển và nghề sông nước lại càng có vị trí quan trọng đặc biệt. Tình hình đó làm cho bộ mặt chiến tranh ở nước ta thường rất đậm màu sắc thủy chiến. Quân thủy đã tham gia tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử dân tộc và đã đem lại nhiều chiến công hiển hách. Ngay từ buổi đầu dựng nước, quân thủy Việt Nam đã là quân thủy giữ nước, quân thủy bảo vệ đất nước. Thời Hùng Vương có truyền thuyết về chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc và diệt Hồ Tôn từ phía Nam. Quân thủy Âu Lạc ở thành Cổ Loa đã đẩy lùi bao cuộc tiến công quân sự của Triệu Đà (Kết cấu thành Cổ Loa mang những nét rất điển hình của một căn cứ quân thủy). Quân thủy của Hai Bà Trưng do nữ tướng Lê Chân chỉ huy làm khốn đốn Mã Viện ở cửa Bạch Đằng. Quân thủy do Lý Bí chỉ huy anh dũng chặn Trần Bá Tiên trên sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt. Quân thủy của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch khiến quân Lương mất ngủ lao đao. Quân thủy do Mai Phúc Loan chỉ huy làm quân Đường vất vả lo âu. Quân thủy của Bố Cái Đại Vương trong trận vây thành Đại La bức chết Cao Chính Bình. Các tướng Khúc Thừa Dụ ở Hồng Châu, Dương Đình Nghệ ở Ái Châu đều huy động và tuyển mộ những dân chài ven sông - biển lập nên những đạo quân thủy thông thạo thuyền bè và chiến đấu trên sông nước.
Quân thủy của Ngô Quyền kết hợp với bãi cọc gỗ cắm ở sông Bạch Đằng đánh tan đoàn chiến thuyền hùng mạnh của quân xâm lược Nam Hán (năm 938), chấm dứt ách đô hộ gần một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc ta. Quân thủy do Lê Hoàn chỉ huy lập nên trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng lần thứ hai, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược Tống.
Thời Lý, thế kỷ thứ XI, vấn đề xây dựng căn cứ, chốt quân thủy phòng thủ đường biển chính thức được đặt ra, trong đó căn cứ Vân Đồn giữ vai trò quan trọng bảo vệ đất nước trên hướng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Quân thủy của Lý Thường Kiệt náo động các châu Khâm, Liêm, chặn thuyền Tống từ ngoài hải giới, cùng quân bộ chặn đứng Quách Quỳ trước sông Cầu, đánh thắng quân thủy Chiêm Thành ở cửa Nhật Lệ năm 1069 và hàng chục trận thắng quân thủy nhà Tống ở vùng biển Quảng Ninh.
Cơ động bằng thuyền, triệt để khai thác địa bàn sông biển trong bố trí lực lượng và thủ đoạn tác chiến đường thủy vẫn là phương châm chiến lược của quân đội nhà Trần. Nhà Trần đã mở rộng đơn vị hành chính Vân Đồn so với thời Lý và đặt ở đây một quân độc lập – quân Bình Hải – có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ vùng biển đông bắc làm cơ sở quyền lực cho việc thu mối lợi ngoại thương ở đây, biến trang Vân Đồn thành một căn cứ phòng thủ đường biển thực thụ đầu tiên ở nước ta. Quân thủy của Trần Quốc Tuấn quét sạch quân Mông ở Đông Bộ Đầu, diệt quân Nguyên ở Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn, Vạn Kiếp… Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (năm 1288), dưới sự chỉ huy thiên tài của Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta làm nên chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy 6 vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Phi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân về nước. Những nhân vật tài giỏi về hoạt động trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nghệ thuật đánh giặc trên sông biển thời Trần.
Quân thủy của chúa Trịnh và chúa Nguyễn (thời kỳ Đàng Trong và Đàng Ngoài) đã chiến thắng các hạm đội xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu (đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan các năm 1642, 1643 và đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702). Sang thế kỷ XVIII, nghệ thuật chiến đấu trên sông biển Việt Nam đã phát triển tới một trình độ khá cao.
Do tài thao lược của người "anh hùng áo vải” Quang Trung - Nguyễn Huệ, một lực lượng quân thủy hùng hậu đã được xây dựng với hàng nghìn chiến thuyền các loại được trang bị hỏa pháo, chở theo cả voi chiến. Quân thủy Tây Sơn nhiều lần vượt biển vào Nam, ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh (Đàng Ngoài), Nguyễn (Đàng Trong) bằng các trận Lỗ Giang, Thúy Ái, chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Đặc biệt, năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công đánh thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút đại phá quân Xiêm. Đây là một trong những trận đánh trên chiến trường sông - biển tiêu biểu của dân tộc ta. Đến giữa thế kỷ XIX, quân thủy của Nguyễn Trung Trực đã nhiều lần đánh vào lực lượng hải quân Pháp, gây cho chúng những thiệt hại đáng kể, mà nổi tiếng nhất là trận đốt cháy chiến hạm Êxpêrăngxơ (Hy vọng) trên sông Nhật Tảo (1861).
Thực tế lịch sử đã tỏ rõ: Kẻ thù dùng quân thủy, đi bằng đường thủy và nhân dân ta cũng sử dụng chiến trường sông biển và quân thủy để đánh địch trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược là một quy luật của chiến tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam. Thắng địch trên chiến trường sông nước là một trong những quy luật giành thắng lợi của nghệ thuật quân sự trong lịch sử nước ta.
NGÔ QUANG CHÍNH (ĐẠI ĐOÀN KẾT)

Lục sử… tìm hiểu Thủy quân Việt thời thượng cổ

26.1.14 Add Comment
Lực lượng thủy quân Việt Nam có lịch sử lâu đời, được phát triển gắn liền với tài bơi lặn của người Việt cổ.


Vì thế, quá trình hình thành nhà nước Văn Lang từ ba bốn nghìn năm trước đây có thể chính là quá trình hình thành những cơ sở đầu tiên của thủy quân Việt cổ. Minh chứng là thuyền chiến được khắc trên các trống đồng thời Hùng Vương là hình tượng tiêu biểu cho thủy quân buổi bình minh đó.

Từ truyền thuyết Lạc Long Quân…

Việt Nam là đất nước của sông ngòi và biển. Truyền thuyết từ xa xưa, ông Tổ Lạc Long quân vốn dòng dõi của Rồng, từ biển tới, từ sông lên, diệt Ngư tinh, Mộc tinh, Hồ tinh, khai sáng miền châu thổ sông Hồng...
Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh hạ một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: "Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được". Thế là, hai người chia con ở riêng. Năm chục người theo cha xuống biển, được coi là thủy tổ của nhóm Bách Việt. Năm chục người theo mẹ về núi, trong đó con cả lên Phong Châu, được tôn làm vua, gọi là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang.

Vậy, Lạc Long Quân - nhân vật thần thoại lớn nhất Việt Nam - có thể xem là Thủy tổ thủy quân Việt cổ?

… Đến Thủy quân thời Hùng Vương

Trải qua nhiều triều đại hoàng kim trong lịch sử, nước ta đã từng có những đội hải thuyền hùng mạnh nổi tiếng. Từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, sử sách thường nhắc đên quân thủy của các nước Văn Lang, Âu Lạc, Chăm Pa, Phù Nam... Đây được coi là những nước có đội quân thủy hùng mạnh của phương Đông thời bấy giờ.

Từ thời vua Hùng, người dân Văn Lang đã biết cưỡi sóng đạp gió ra khơi trên những con thuyền độc mộc, có khi dài trên 20 m, chở hàng chục chiến binh xung trận theo nhịp trống đồng trên thuyền. Vua Hùng lại biết dạy dân vẽ mắt thuyền để tránh thủy quái làm hại; mũi thuyền gắn ngà voi hoặc tạc hình đầu chim, thú. Chưa hết, những cánh buồm đan bằng lá dứa dại giúp cho thuyền lèo lái nhanh nhẹn, vượt sóng đón gió hết sức tài tình… Do vậy, con thuyền đã rất gắn liền với người Việt cổ, cụ thể: trên mái nhà sàn cũng có hình thuyền, cối gỗ chân vuông cũng có hình thuyền, quan tài để mai táng người chết luôn luôn có hình thuyền lòng máng, và đặc biệt trên các trống đồng đều có hình ảnh thuyền chiến…

Đến cuối thời đại Hùng Vương, nhất là thời kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, thủy quân của nước Việt cổ được tổ chức quy mô hơn. Các công trình nghiên cứu về thành Cổ Loa cho thấy, bao quanh thành có ba con hào ăn thông với nhau và thông với sông Hoàng Giang. Nhờ vậy, thuyền bè có thể đi lại xung quanh cả ba vòng thành và có thể ra sông Hoàng Giang, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục Đầu để tiến ra biển Đông. Do vậy, liệu Cổ Loa ngoài là căn cứ bộ binh, có thêm chức năng thủy binh?

Có thể nói, từ con thuyền độc mộc trải qua hàng ngàn năm, người Việt xưa không ngừng cải tiến sáng tạo trong việc đóng mới thuyền bè, luyện tập thủy quân trở thành một trong những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể, cho đến thế kỷ thứ 10 (năm 938), Ngô Quyền đã đánh tan cả đạo quân Nam Hán hùng mạnh trên sông Bạch Đằng - là tiếng trống mở màn, báo hiệu cho hàng loạt thắng lợi về sau này qua những trận chiến trên sông nước, đánh bại nhiều đạo quân xâm lược khác của thủy quân Đại Việt.
VĨNH KHANG (ĐẤT VIỆT ONLINE)