Hồ Nguyên Trừng: Mệnh trời là ở lòng dân

Gió Thoảng 26.9.16
Hồ Nguyên Trừng từng đề cao lòng dân khi nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi” và sử thần Ngô Sĩ Liên đã đúc kết câu nói nổi tiếng này thành một chân lý “Mệnh trời là ở lòng dân”.



Phần 1: Mệnh trời là ở lòng dân

Hồ Nguyên Trừng (1374? - 1446?) nguyên họ Lê, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Ông là con cả của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương.

Tháng 11-1394, lần đầu tiên sử sách nhắc đến Nguyên Trừng với việc triều Trần Thuận Tông bổ nhiệm ông làm Thượng Lân tự. Tháng 6-1399, đời Trần Thiếu Đế, ông giữ chức Tư đồ.

Đầu năm 1400, khi cha ông, Hồ Quý Ly, truất ngôi Trần Thiếu Đế, tự lên ngôi vua lập nên nhà Hồ, ông được cử làm Tả Tướng quốc.

Ông là con trưởng nhưng không được cha truyền ngôi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, Hồ Quý Ly trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (cháu ngoại vua Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn ra câu đối dọ ý ông: “Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân” (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Ông khiêm tốn trả lời: “Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc”. (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường làm cột để chống nâng xã tắc). Biết ông tỏ ý không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước, nên họ Hồ quyết định truyền ngôi cho Hán Thương.

Khi quân Minh lăm le xâm lược nước ta, cuối năm 1405, Hồ Quý Ly cho triệu tập triều thần để bàn kế chống giặc. Các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật. Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”. Nghe thế, Hồ Quý Ly liền ban cho ông một cái hộp trầu bằng vàng. Về sau, sử thần Ngô Sĩ Liên đã hết lời khen câu nói nổi tiếng này của ông rằng: “Mệnh trời là ở lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó. Không thể vì cớ họ Hồ mà bỏ câu nói của Trừng được”.

Nhằm phục vụ các hoạt động về giao thông, thủy lợi và quân sự, ông cho đắp những con đê lớn, đào một số kênh và vét lại một số con sông. Đặc biệt, những công trình kiến trúc ở thời nhà Hồ, chẳng hạn như thành Tây Đô đồ sộ… đều do ông chỉ huy xây dựng.

Năm 1406, lấy cớ “Phù Trần diệt Hồ”, vua Minh sai Trương Phụ và Mộc Thạnh xua quân sang đánh nước ta. Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã kháng cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu (Bắc Ninh ngày nay), vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, tướng Minh xua tiếp 80 vạn quân sang nước ta. Ông được giao chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái.

Ông tỏ rõ là một nhà quân sự kiệt xuất qua việc lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu bằng cứ điểm then chốt Đa Bang (Ba Vì) kéo dài theo bờ Nam Sông Đà, sông Hồng cho đến sông Ninh (Nam Hà) rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400km. Ông cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo: cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua những khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục trang bị bằng hỏa lực mạnh, từng khiến cho thủy binh giặc nhiều phen khiếp đảm.

Nhưng rồi, giặc đã mạnh, lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng nên Nhà Hồ thất bại nối tiếp thất bại. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị quân Minh bắt sống và giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc).

Mệnh trời là ở lòng dân. Thế nhưng, do một phần nhà Hồ chưa quan tâm đến lòng dân, một phần trúng kế ly gián của quân Minh mà nhà Hồ mất, cả nước Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh.

Kỳ 2: Ông Tđúc súng thần công.

Hồ Nguyên Trừng không chỉ là vị tướng tài mà còn là một công trình sư lỗi lạc, được coi là ông Tổ của nghề đúc súng thần công Việt Nam và cả Trung Quốc.
Khi toàn bộ gia tộc họ Hồ được giải tới Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc), vua Minh Anh Tông chú ý đến hai người là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương), quyết định ân xá họ vì cả hai đều có tài năng.

Hồ Nguyên Trừng, khi còn ở trong nước, đã sáng chế, chỉ đạo chế tác súng “Thần cơ” (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng) để chống lại quân Minh. Quân giặc đã lắm phen kinh hồn bạt vía bởi loại súng có sức công phá sấm sét này mà không hiểu nổi. Vì thế, với người Minh, bắt được ông là nắm được bí mật quân sự.

Tuy Đại Việt sử ký toàn thư không thấy chép việc chế tạo súng Thần cơ, nhưng sử Trung Quốc thời Minh (Minh sử) lại chép trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, người Minh đã bắt được “súng thần”, “pháo thần” của Giao Chỉ (tên nhà Minh gọi nước ta thời đó). Biết ông là người sáng chế ra loại vũ khí “nhất thiên hạ”, Trung Quốc “chưa từng có”, vua Minh đã trọng dụng ông và giao cho ông  chế tạo loại vũ khí lợi hại này.

Công trình của ông đã được Trương Tú Dân, một tác giả người Trung Quốc, đề cập trong bài “Cống hiến của người Giao Chỉ đời Minh ở Trung Quốc” viết năm 1947, được đăng lại trong cuốn “Trung – Việt quan hệ sử luận văn tập” xuất bản tại Đài Bắc năm 1992. Theo đó, ông (lúc này là Lê Trừng, lấy lại họ cũ) được mô tả là người chế tạo hỏa khí; Nguyễn An, cũng là một tù binh chiến tranh người Việt Nam, đã được Vĩnh Lạc, hoàng đế nhà Minh, giao trọng trách thiết kế và tổng chỉ huy việc xây dựng Tử Cấm thành ở Bắc Kinh...

Về “súng thần” của ông, tác giả dẫn ghi chép từ Minh sử: “Dùng đồng đỏ ở mức độ giữa sống và chín, nếu dùng sắt thì sắt xây dựng mềm hơn, sắt Tây kém hơn. To nhỏ khác nhau, thứ lớn dùng xe, thứ nhỏ dùng giá, dùng bệ, vác vai. Thứ lớn lợi cho phòng thủ, thứ nhỏ lợi cho chiến đấu, tùy nghi mà sử dụng, là thứ vũ khí chủ yếu khi hành quân”. Và sức công phá của nó: “Khi (Minh) Thành Tổ thân chinh Mạc Bắc (chỉ Mông Cổ) dùng súng thần An Nam vừa bắt được, kẻ địch một người tiến lên, lại hai người nữa chết theo, đều trúng súng (đạn) mà chết”.

Về người chế tạo “súng thần Giao Chỉ”, theo tác giả Trương Tú Dân, tuy Minh sử không nói là ai, nhưng theo ghi chép trong Minh thực lục và sách của người Minh thì đó là Lê Trừng, con vua nước Đại Ngu (quốc hiệu của nước ta thời Nhà Hồ). Tác giả còn cho biết: Quân đội Trung Quốc khi tế binh khí đều tế Lê Trừng và tôn ông làm Thần hỏa khí. Điều này, tác giả người đời Thanh (Trung Quốc) là Lưu Hiến Đình (1648 - 1695) cũng đã chép trong sách Quảng Dương tạp ký: “Súng Giao Chỉ nhất thiên hạ, Hồ Nguyên Trừng làm đến chức Thượng thư Bộ Công được quân đội Trung Hoa tôn là “Thần của hỏa khí”.

Vào thời Hồ Nguyên Trừng, thế giới vẫn đang còn thai nghén về súng đại bác thì người Việt càng tự hào về sáng chế của ông. Có điều, vì sao sử sách nước ta không chép việc này? Thực ra, trong thân phận bị kẻ thù bắt làm tù binh thì việc làm của ông không đáng ca ngợi vì có đẹp đẽ gì đối với Tổ quốc. Song, đây là một sự kiện lịch sử, một sáng chế phát minh của người Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XV.

Bản thân Hồ Nguyên Trừng, dù tha hương với chức cao bổng hậu, ông vẫn ngóng về quê hương khi lấy bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam) và viết quyển “Nam Ông mộng lục” gồm 31 phần, do Hồ Huỳnh, Thượng thư Bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440. “Nam Ông mộng lục” mô tả rất sinh động và chân thật hình ảnh đất nước con người Việt Nam cách đây hơn 600 năm qua các mảng đời sống, tín ngưỡng, phong tục, lề thói…

Phần mộ của ông hiện tọa lạc tại thôn Nam An Hà, hương (xã) Bắc An Hà, khu Hải Điện, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc.

Thành phố Đà Nẵng đặt tên ông cho con đường dài 1,52km, rộng 7,5m, điểm đầu giao với đường Núi Thành, điểm cuối giao với đường Nguyễn Hữu Thọ, theo Nghị quyết số 80/2009/NQ/HĐND ngày 8-7-2009 của HĐND thành phố về đặt, đổi tên đường ở Đà Nẵng.

LÊ GIA LỘC

Bài viết liên quan:

Previous
Next Post »