Khổ vì văcxin

31.12.15 Add Comment
Tối muộn ngày 24/12, một phụ huynh đăng thông báo tuyển người “xếp hàng, lấy số tiêm văcxin cho con từ khoảng 3h30 - 4h sáng”. Người này khẳng định đây là việc hoàn toàn nghiêm túc và hứa trả công 250 nghìn đồng cho người xếp hàng.



Tôi biết phụ huynh này cũng như hàng nghìn ông bố, bà mẹ khác đã hoàn toàn nghiêm túc khi chen lấn trong đêm Noel mưa gió để giành giật cho con mình một liều Pentaxim. Bởi bệnh tật là nỗi sợ hiện hữu. Thế hệ tôi trở về trước đã chứng kiến không biết bao nhiêu bệnh nhân bị bại liệt, còn thế hệ sau tôi thì chứng kiến không ít em bé bị biến dạng do mẹ nhiễm Rubella trong thời kỳ mang thai... Làm sao có thể không sợ khi có không ít thời điểm, loài người đã rơi vào cơn tuyệt vọng. Nhưng khi văcxin ra đời, nó đã cứu sống những bệnh nhân có nguy cơ bị dịch bệnh giết chết.

Bởi thế mà trong ba thập kỷ, kể từ năm 1985, chương trình Tiêm chủng mở rộng của Việt Nam đã phủ kín 100% xã phường trong cả nước. Thành công đó đã được thế giới ghi nhận. Nhờ có tiêm chủng, một số dịch bệnh bị tiêu diệt, trẻ em khỏe mạnh do tăng sức đề kháng, nhiều căn bệnh nghiêm trọng cũng trở nên nhẹ đi.

Vậy tại sao hôm nay người dân lại khổ với văcxin như vậy? Tôi cho rằng, vì người dân thiếu thông tin. Chính xác hơn, những thông tin tiêu cực về phản ứng phụ của Quinvaxem đã lấn át thông tin tích cực về tác dụng chính của loại vacxin đang được Việt Nam sử dụng vào chương trình Tiêm chủng mở rộng này.

Khi sự việc ba cháu bé ở Quảng Trị tử vong sau tiêm văcxin viêm gan B, xã hội đã sốc, người ta bắt đầu tẩy chay tiêm chủng. Hệ quả là dịch sởi năm 2014 đã giết chết hàng trăm trẻ, sởi chỉ thực sự dập tắt khi các bà mẹ đồng loạt đưa con đi tiêm phòng, đó chính là tiếng chuông đánh thức thảm họa dịch bệnh.

Sau bài học sởi, Quinvaxem lại bị mất uy tín bởi những ca tai biến. Sau cái chết của 43 trẻ liên quan đến tiêm Quinvaxem, những thông tin không đầy đủ đã gây nhiễu, bất chấp cảnh báo của WHO trong tháng 6/2013, người ta lại tẩy chay tiêm loại văcxin này.

Một lần nữa, tôi hoàn toàn hiểu được tâm trạng của những ông bố bà mẹ tẩy chay Quinvaxem để đổ xô đi tiêm Pentaxim. Ai cũng biết vacxin có tác dụng với sức khỏe cộng đồng, ngăn chặn bệnh truyền nhiễm; nhưng khi con cái chúng ta phải đối mặt với nguy cơ tử vong, với tác dụng phụ nghiêm trọng, hay những biến chứng lâu dài do tiêm văcxin, thì không ai có thể tránh khỏi sợ hãi. Nhất là khi không phải ai cũng có đủ trình độ, đủ thông tin để tiếp cận văcxin với cái nhìn đầy đủ nhất.

Sự thực thì, văcxin cũng giống các loại thuốc khác, khi tiêm vào cơ thể sẽ có những phản ứng phụ, gây tai biến, thậm chí là tử vong.

Ví dụ, thời gian qua, một số người mang con sang Singapore để được tiêm văcxin 6 trong 1 Infanrix Hexa. Đây là loại văcxin tiêm phòng phổ biến ở Italy, nhưng vừa bị tòa án Italy yêu cầu nhà sản xuất công bố độ an toàn. Theo kết quả công bố, trong 12 năm, Italy thực hiện 15 triệu mũi tiêm, đã có 63 trẻ tử vong đột ngột trong vòng 20 ngày (trung bình 4,2 trẻ tử vong/1 triệu mũi tiêm). Một nghiên cứu khác cũng ở Italy, thống kê số trẻ chết đột ngột chưa rõ nguyên nhân sau khi tiêm văcxin (gồm hai loại vacxin 6 trong 1 có tên Infanrix Hexa và Hexavac, cùng các mũi rời khác). Kết quả có 52 trẻ tử vong trong 14 ngày sau tiêm (trung bình 14 trẻ tử vong/1 triệu trẻ tiêm).

Việt Nam thực thiện tiêm chủng văcxin Quinvaxem bắt đầu từ tháng 10/2010. Theo ước tính tạm thời, đến nay có khoảng 25 triệu mũi tiêm, số trẻ tử vong là 63 (tạm tính trung bình 2,5 trẻ tử vong/1 triệu mũi tiêm).

Không khó để tìm kiếm những con số thống kê như vậy, nhưng tất cả chưa thể phản ánh được tính an toàn của Quinvaxem vượt trội hay kém hơn Infanrix Hexa mà Singapore, Italy và Đức đang tiêm phổ biến. Quinvaxem cũng chưa thể so sánh được với Pentaxim mới nhập về Việt Nam. Bởi trong nghiên cứu văcxin, phương pháp luận khoa học dù có công phu đến mấy vẫn cứ luôn nghèo nàn, do quy mô nghiên cứu quá nhỏ, thời gian nghiên cứu quá ngắn, phạm vi nghiên cứu quá hạn chế trong các quần thể đại diện.

Một loại văcxin chỉ thực sự an toàn khi chính văcxin đó không bao giờ sử dụng.

Trong điều kiện trước đây của đất nước ta, thì chương trình Tiêm chủng miễn phí đứng hẳn về phía người nghèo là hoàn toàn đúng đắn. Nhưng ở hiện tại, nếu chỉ sử dụng Quinvaxem để tiêm chủng miễn phí, mà không tạo được môi trường đa dạng hóa nhiều loại văcxin dịch vụ để người dân có quyền lựa chọn như ở các nước phát triển đang làm, thì đó là một sự thiếu sót.

Để xây dựng chính sách văcxin có thể được chấp nhận cả về đạo đức cũng như pháp lý, theo tôi chính sách ấy phải dựa trên hiệu quả về sức khỏe cộng đồng với những căn cứ khoa học xác đáng, chứ không phải vì lợi ích kinh tế. Vacxin cực kỳ nhạy cảm, nó dễ bị chi phối bới những xung đột kinh tế, nguy cơ hàng tỷ USD doanh thu chảy từ túi người nghèo sang thế giới người giàu. Để cộng đồng không phải trả giá đắt trong tương lai, rất cần những người hoạch định chính sách văcxin có trái tim thật nóng nhưng cái đầu phải thật lạnh.

Tôi cho rằng, để khắc phục cuộc khủng hoảng văcxin mang tên Quinvaxem, ngoài việc ngành y tế cố gắng đàm phán với đối tác để sớm cung cấp nguồn văcxin dịch vụ đa dạng, thì cần thiết phải công khai minh bạch về văcxin và cung cấp đầy đủ thông tin thiết yếu để người dân hiểu biết về tiêm chủng.

Nếu chúng ta vẫn còn tiếp cận vô trách nhiệm với vấn đề tiêm phòng, thì hình ảnh những ông bố bà mẹ bấn loạn khi nghe tin có văcxin dịch vụ mới chỉ là cảnh mở đầu trong kịch bản đe dọa sự sống an toàn.

Trần Văn Phúc

Giới trẻ Việt và cuộc 'xâm lược văn hóa' từ Hàn Quốc

31.12.15 Add Comment
Giao lưu văn hóa là điều cần thiết trong xu hướng toàn cầu hóa, tuy nhiên, sự giao thoa, tiếp nhận văn hóa từ quốc gia khác cũng cần phải có chọn lọc. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cũng như các bậc phụ huynh “giật mình” trước xu hướng thần tượng “quá đà” các ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc của con em mình.



Chính phủ Hàn Quốc coi văn hóa là một thị trường rất tiềm năng và họ đã có chiến lược “xuất khẩu” và “tiếp thị” nền văn hóa của mình và tạo cho nó một sức lan tỏa rộng khắp, không chỉ giới hạn trong tầm châu lục mà trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Du nhập chậm và nhưng lan tỏa nhanh
Năm 1997, bộ phim Hàn Quốc đầu tiên “Yumi – Tình yêu của tôi” được phát sóng trên kênh VTV1 và “Mối tình đầu” trên kênh VTV3 của Đài Truyền hình Việt Nam, mở đường cho văn hóa Hàn Quốc du nhập vào Việt Nam – đặc biệt là tới giới trẻ Việt.
Trước đó, ngoài các phim sản xuất trong nước, giới trẻ Việt Nam chỉ tiếp xúc với các bộ phim võ thuật cổ trang của Hồng Kông, những bộ phim tâm lý xã hội dài hơi của Singapore, Đài Loan hay các tập phim truyền hình về những đề tài sáo mòn và cũ kỹ như: Chống tham nhũng, cảnh sát đối đầu tội phạm xã hội đen, thì sự xuất hiện của một bộ phim như “Mối tình đầu” như một cơn lốc thổi mạnh vào cảm quan văn hóa của nhiều người Việt.
Sau “Mối tình đầu”, Đài truyền hình Việt Nam và các đài khác bắt đầu nhập và chiếu một loạt các bộ phim truyền hình của Hàn Quốc như “Anh em nhà bác sĩ”, “Người mẫu”, “Cảm xúc”, “Tình cờ”, “Trái tim mùa thu” cho tới “Bản tình ca mùa đông”, “Nấc thang lên thiên đường”, “Giày thủy tinh”.
Các bộ phim này không những lấy đi nước mắt của biết bao người xem Việt mà còn khắc sâu trong tâm trí họ một nền văn hóa mới mẻ của đất nước Cao Ly.
Nếu như tự đặt mình vào vị trí 15 năm trước đây thì chắc hẳn bạn sẽ “mù tịt ” về văn hóa Hàn Quốc, bạn sẽ chẳng biết gì, thế nào về trang phục Hanbok, bạn sẽ vô cùng thắc mắc về xuất xứ của món kim chi và bạn cũng sẽ tự hỏi rượu Sochu là cái gì?
Đơn giản chỉ vì chúng ta không hề có thông tin gì và cũng chẳng có bộ phim nào của Hàn Quốc được phát sóng trên các kênh truyền hình cũng như các rạp chiếu bóng của nước ta cũng như nhiều quốc gia châu Á khác, mà thay vào đó là các bộ phim của Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông…
Nhưng giờ đây thì ngược lại, phim ảnh Hàn Quốc đã thực sự lên ngôi, trở thành một cơn lốc, tạo ra những làn sóng như những cơn “sóng thần” lấn át, xâm nhập, bành trướng thậm chí là cả thống trị thị trường phim ảnh ở một số nước cũng nhiều quốc gia châu Á khác đồng thời đã và đang gây được ảnh hưởng và uy tín lớn tại nhiều quốc gia, khu vực khác trên thế giới tạo ra tiếng tăm lẫy lừng khắp thế giới.
Tại Seoul và các thành phố lớn khác của Hàn Quốc, các biển quảng cáo phim nội được treo la liệt khắp nơi từ bến xe buýt, ga tàu điện ngầm… cho đến những trung tâm mua sắm sầm uất. Chúng ta cũng thấy rằng, hiện nay, điện ảnh Hàn Quốc có một sức mạnh nội lực ghê gớm và kỳ diệu, mạnh đến mức mà nó có đủ sức để đánh bật những bộ phim ăn khách nhất của kinh đô điện ảnh thế giới Hollywood như “Đại chiến thế giới”, “Ông bà Smith”. “Bộ tứ kỳ diệu”, hay “Titanic”.
Phim ảnh Hàn Quốc đã đẩy lùi con số nhập khẩu phim Hollywood từ con số 76% phim chiếu ở các rạp xuống còn 14% vào năm 1999 đã làm cho các nhà sản xuất phim cũng như Chính phủ cảm thấy rằng: sản xuất phim nội rõ ràng là có lợi hơn phim ngoại lên họ đã tiếp tục đầu tư mọi nguồn lực để phát triển hơn nữa ngành điện ảnh nước nhà.
Với Việt Nam, thông qua điện ảnh, người Việt bắt đầu làm quen với văn hóa Hàn Quốc, họ tìm hiểu và thích thú với Hàn Quốc, nhớ được những cái tên khó đọc các diễn viên Hàn Quốc, dùng sản phẩm Hàn Quốc, học tiếng Hàn Quốc… Và cũng qua điện ảnh, Hàn Quốc phát triển sức ảnh hưởng của mình bằng hàng loạt các công cụ khác. Đó là ngành công nghiệp giải trí, là thời trang và ẩm thực.
Minh chứng cho điều này, 15 năm trước đây, hàng hóa mang nhãn “Made in Korea” hầu như chưa xuất hiện nhiều ở Việt Nam. Nhưng chỉ sau bộ phim “Thành thật với tình yêu” phát trên kênh VTV3 cùng mẩu quảng cáo dầu gội Double Rich của anh chàng diễn viên điển trai Bae Yong Jun thì lần đầu tiên một sản phẩm Made in Korea chính thức chào hàng một cách thông minh và chuyên nghiệp với người tiêu dùng Việt Nam.
Sau đó là một loạt các quảng cáo Debon, LG, Essance với hình ảnh của các diễn viên nổi tiếng như Kim Nam Joo, Lee Young Ae… Qua điện ảnh, Hàn Quốc đã mang nền văn hóa của mình du nhập và lan tỏa mạnh mẽ vào các quốc gia khác.
Nhận thức được tầm ảnh hưởng của nền văn hóa của đất nước mình, chính phủ Hàn Quốc coi văn hóa là một thị trường rất tiềm năng và họ đã có chiến lược “xuất khẩu” và “tiếp thị” nền văn hóa của mình và tạo cho nó một sức lan tỏa rộng khắp, không chỉ giới hạn trong tầm châu lục mà trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Giới trẻ Việt và “cơn bão” Hàn Quốc
Nếu như khoảng 15 năm trước, người Việt không biết Hàn Quốc là quốc gia nào, có nét đặc trưng là gì; thì ngày nay, chỉ cần hỏi bất kỳ người nào – đặc biệt là giới trẻ – họ cũng có thể cho bạn biết Hàn Quốc có trang phục truyền thống nào, nét đặc sắc trong ẩm thực là gì và đọc vanh vách tên các diễn viên, ca sĩ Hàn Quốc.
Có thể nói, ngày nay, sức ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc, của “làn sóng Hallyu” tới giới trẻ Việt Nam cực kỳ mạnh mẽ.
Thời kỳ đầu đến nay do sức ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc, đặc biệt là phim ảnh, giới trẻ Việt Nam đã học theo phim Hàn Quốc một cách nhanh chóng. Nhiều nam thanh nữ tú đã theo mốt tóc nâu môi trầm, sau đó là tóc vàng… sau đó là việc dùng mĩ phẩm, thời trang, làm đẹp thẩm mĩ và những thứ hàng hóa khác của Hàn Quốc. Có cả những Hiệu mang tên được lấy từ phim Hàn Quốc hoặc tiếng Hàn như Kim Chi, Segu, Dae Chang Geum.
Đó là chưa kể đến những hàng hóa, những Công ty Hàn Quốc làm ăn ở Việt Nam cùng thời với phim Hàn Quốc trên màn ảnh đã rất có lợi trong kinh doanh nhờ phim ảnh hay cách này cách khác quảng cáo về họ. Đặc biệt là gần đây học tập từ kinh nghiệm của phim Hàn Quốc mà các nhà làm phim Việt Nam đã có vận dụng ít nhiều công nghệ và phong cách, tiếp thị, quảng cáo, nhận tài trợ… trong một số phim như: “Những cô gái chân dài”, “39 độ yêu”, “Công ty thời trang”, “Người mẫu”…
Vậy hãy thử tìm hiểu những ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc đối với giới trẻ Việt.
Trước hết, giới trẻ Việt bị ảnh hưởng từ các chương trình giải trí Hàn Quốc như điện ảnh, âm nhạc và các chương trình giải trí truyền hình. Từ đó, một loạt các diễn viên, ca sĩ thần tượng ra đời, ảnh hưởng trực tiếp vào thị hiếu thẩm mỹ của lớp trẻ.
Công lao trong việc đưa ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc đến với công chúng và mở rộng tầm ảnh hưởng của nó ra nước ngoài, đặc biệt là các nước châu Á chính là các công ty, các tập đoàn lớn trong ngành giải trí như SM Entertainment, YG Entertainment, Cube Entertaiment, Universal Music, JYP Entertainment (công ty chuyên phát hiện, đào tạo, quản lý sao) và Mnet Media (mạng bán hàng).
Ngày nay, giới trẻ Việt mê phim Hàn, thần tượng ca sĩ, diễn viên Hàn, trang điểm, ăn mặc theo phong cách Hàn … không còn quá lạ lẫm. Vẻ đẹp trong veo của các nữ nghệ sĩ cùng vẻ nam tính, lạnh lùng hay nét thư sinh, mềm mại của các nam nghệ sĩ dần trở thành tiêu chuẩn để nhiều bạn trẻ Việt học theo và hướng tới.
Thông qua đó, các nhãn hàng mỹ phẩm “made in Korea” như Ohui, The Face Shop, The Body Shop… cũng cực kỳ hút khách.
Thông qua các bộ phim, phong cách Hàn đã lan vào những nếp sinh hoạt hàng ngày của giới trẻ. Thử chú ý xem, nếu thấy ở đâu đó có một cô nàng đội mũ lệch, tay cầm điện thoại di động có gắn một con thú bông nho nhỏ, thì chắc chắn đó chính là một fan của dòng phim Hàn thế hệ mới. Cách ăn mặc, trang điểm… hàng ngày của nhiều bạn trẻ Việt đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các ngôi sao thần tượng Hàn Quốc.

Qua điện ảnh và âm nhạc, ẩm thực Hàn Quốc cũng đã du nhập vào Việt Nam. Nếu như cách đây 15 năm, không ai biết gì về kim chi hay rượu sochu; thì ngày nay, để tìm được một nhà hàng Hàn Quốc thật quá dễ dàng.
Tại Hà Nội, các nhà hàng, quán ăn Hàn Quốc rất đông khách. Có thực khách tìm đến với những quán ăn này không hẳn vì yêu thích mà nhiều khi do tò mò, muốn khám phá ẩm thực Hàn Quốc được giới thiệu và quảng bá trên phim ảnh thực chất như thế nào.
Từ đó, ẩm thực Hàn Quốc như kim chi, với Bibimbap (cơm trộn), với Tteokbokki (bánh gạo), Japchae (miến) hay Samgyeopsal (thịt ba chỉ nướng) … trở nên quen thuộc với nhiều người dân Việt và họ tỏ ra rất thích thú với nền ẩm thực mới mẻ này.
Đã có thời, sinh viên Thủ đô xôn xao trước những màn tỏ tình gây sốc ngay tại sân trường hoặc khu ký túc xá theo kiểu Hàn Quốc của những chàng trai Bách Khoa, Thủy Lợi, Báo chí… Hay như nhiều đôi bạn trẻ cố tìm kiếm những con đường, những không gian lãng mạn trong thành phố làm điểm hẹn tình yêu… giống như những hình ảnh mộng mơ mà họ thường thấy trên truyền hình.
Ngoài thời trang, ẩm thực, nhiều bạn trẻ còn tìm học tiếng Hàn Quốc, từ đó, hàng loạt các trung tâm dạy tiếng Hàn Quốc ra đời, thu hút được số lượng đông đảo các học viên. Điều này càng khẳng định sức ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng văn hóa Hàn Quốc với giới trẻ Việt Nam.
Không thể phủ nhận ngành công nghiệp giải trí của Hàn Quốc đã phát triển rực rỡ và thu được quá nhiều thành công, sức lan tỏa của ngành giải trí này không chỉ còn gói gọn trong châu lục mà đã vươn ra ngoài thế giới.
Và mặt trái …
Nói về cách mà một nền văn hóa ảnh hưởng tới nền văn hóa khác, các nhà nghiên cứu đều cho rằng có 2 cách cơ bản là Cưỡng bức (trong bối cảnh bị xâm lược) và Tự nguyện (trong bối cảnh hòa bình và giao lưu hội nhập quốc tế). Và cách mà nền văn hóa Hàn Quốc ảnh hưởng tới Việt Nam theo cách thứ 2 – Tự nguyện.
Giao lưu văn hóa là điều cần thiết trong xu hướng toàn cầu hóa, tuy nhiên, sự giao thoa, tiếp nhận văn hóa từ quốc gia khác cũng cần phải có chọn lọc. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cũng như các bậc phụ huynh “giật mình” trước xu hướng thần tượng “quá đà” các ca sĩ, diễn viên Hàn Quốc của con em mình.
Bắt chước thần tượng, thời nay, nhiều cô gái trẻ Việt Nam còn tìm đến thẩm mỹ viện để nối mi, nâng mũi hoặc phẫu thuật để cho mắt giống thần tượng này, mũi giống thần tượng kia trên phim, bất chấp lời can ngăn của bác sĩ thẩm mỹ.
Có những bạn trẻ còn kỳ công sưu tập những mẫu váy, áo Hàn Quốc trên mạng và đặt may y chang như thế. Thậm chí, có nhiều bạn còn hâm mộ đến mức đặt hàng online qua internet để có cho được những bộ trang phục có xuất xứ “made in Korea” chính hiệu để mặc cho giống hệt với thần tượng của mình.
Gần đây còn xuất hiện xu hướng rất nhiều đôi uyên ương rủ nhau đi chụp ảnh cưới theo phong cách Hàn Quốc. Thay vì chọn áo dài, khăn đóng truyền thống của người Việt hay những chiếc váy hiện đại theo kiểu phương Tây vốn được ưa chuộng xưa nay, các cặp đôi lại xúng xính trong bộ Hanbok truyền thống của người Hàn Quốc với một tâm trạng rất hồ hởi, phấn khích.
Điều đáng nói là có một số bạn trẻ không ý thức được sự chênh lệch giữa ngoại hình, làn da của mình nên cứ vô tư khoác lên người những bộ trang phục ngắn cũn, sặc sỡ, kiểu cách để chứng tỏ sự sành điệu giống thần tượng. Họ không hề biết rằng sự nhái lại này đã gây ra những cách ăn mặc kệch cỡm, lố bịch và tạo ra sự phản cảm cho người đối diện.
“Sự kiện Suju” trong nhạc hội MTV Exit concert vào tháng 4/2010 đã làm hàng trăm người dẫm đạp, chen lấn nhau để vào SVĐ Mỹ Đình, và làm hàng chục khán giả ngất xỉu trong quá trình diễn ra nhạc hội.
Rất nhiều người đã shock khi đọc được một câu nói có thật của 1 fan SuJu trong sự kiện MTV Exit concert: “Nếu có 1 ngày thế giới phản bội lại Super Junior, ELF (Ever Lasting Friends – Tình bạn vĩnh cửu – tên gọi Fanclub chính thức của Super Junior) cũng sẽ phản bội cả thế giới. Em sẵn sàng giết bố mẹ nếu không cho em đi xem SuJu biểu diễn. Thật vui vì ông bà già cuối cùng cũng biết điều và để mình đi”.
Hay lời tuyên bố của một bạn trẻ “Gia đình là phù du, SuJu là tất cả” cũng khiến nhiều người phải giật mình vì sự thái quá trong cách các bạn trẻ này thần tượng các “oppa” Hàn Quốc.
Trong thời đại toàn cầu hóa, việc giao thoa giữa các luồng văn hóa là điều không tránh khỏi, đặc biệt là văn hóa Hàn Quốc đối với giới trẻ Việt Nam. Tất nhiên, không thể phủ nhận những tác động tích cực mà làn sóng Hallyu mang lại như các bộ phim có tính nhân văn, giàu tình cảm về những mối quan hệ xã hội hay những những sản phẩm giải trí hiện đại, sôi động cho giới trẻ… tuy nhiên, sự xâm nhập quá ồ ạt của làn sóng Hallyu cũng tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn.
Trong khi các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách đang hướng Việt Nam “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thì việc tiếp nhận văn hóa ngoại lai cũng cần cân nhắc và có chọn lọc. Đặc biệt, giới trẻ Việt Nam rất nhạy cảm với những cái mới, hiện đại của nước ngoài và dễ rơi vào sự lệch lạc trong thẩm mỹ.
Cần giáo dục, tuyên truyền đầy đủ để họ có tình yêu, thái độ tôn trọng và ý thức giữ gìn văn hóa của quốc gia mình trước khi tiếp nhận nền văn hóa của một quốc gia khác.
Theo NĂNG LƯỢNG MỚI

SIR ALEX FERGUSON – CHÚC MỪNG SINH NHẬT TỪ NHỮNG LỜI XIN LỖI

31.12.15 Add Comment
Hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2015. Ngày 31. Chỉ ít giờ nữa pháo hoa sẽ nổ, đường phố nhộn nhịp những âm thanh phát ra từ bản nhạc Happy New Year bất hủ. Tôi ngồi đây. Một góc phòng. Xung quanh tôi, không gian này tràn ngập tiếng nhạc “Red is the Man” thay vì giai điệu từ ca khúc của ABBA đã quá quen thuộc.


Với tôi ngày hôm nay mang rất nhiều ý nghĩa. Đó là sinh nhật “Ngài Alex”. Chắc hẳn ngoài kia có hàng trăm hàng chục Page đăng ảnh, viết những dòng chúc mừng sinh nhật ý nghĩa. Tôi cũng muốn viết về ông, nhưng lại chẳng biết bắt đầu như thế nào.

27 năm lẫy lừng chèo lái con thuyền Manchester United không cần kể lại thì ai cũng biết. Người đời nhìn về ông như thế nào, các cầu thủ tôn trọng ông ra sao. Không cần thể hiện thành lời mà chỉ nhìn hành động thì ai cũng hiểu được.

Ngày hôm nay thay vì chúc mừng, tôi muốn nói về lời xin lỗi. Xin lỗi người đàn ông có ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống của tôi.
Có 2 lý do cơ bản để bạn cảm thấy không thích một người. Cái thứ nhất xuất phát từ thiện cảm ban đầu, nhìn diện mạo không có cảm tình là không thích. Lý do thứ 2 có thể đến từ sự ghen tị. Khi M.U lên ngôi đến 13 lần trong 20 năm.

Đúng là khi ghét một ai đó, chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu kể cả việc duy nhất họ làm lúc ấy là… thở. Tôi không thích cái cách ông ấy tóp tép nhai kẹo cao su trong khi trận đấu đang hết sức căng thẳng, tôi không thích cái cách ông ý giúp M.U luôn có những bàn thắng “may mắn” vào phút cuối. Tôi biết mình không phải người duy nhất không ưa Sir Alex Ferguson, còn rất nhiều, rất nhiều cầu thủ, người nổi tiếng khác cũng không thích HLV người Scotland. Nhưng điều tôi biết chắc lúc này. Nơi tôi đứng là ở phía hàng chục triệu người yêu mến ông, thay vì phía những người vì lí do nọ kia không thích Ngài.

• LỜI XIN LỖI TỪ ĐỒNG NGHIỆP
Sir Alex gắn bó với Man United không có nghĩa đội ngũ huấn luyện của ông cũng vậy. Sau những thành công từ năm 1991, những người trợ lý của Alex Ferguson thực sự là những ngôi sao sáng trong mắt các CLB khác. Những cái tên Archie Knox, Brian Kidd, Steve McClaren, Carlos Queiroz… sau một vài năm sát cánh bên Sir Alex cũng dần dần bỏ lại ông để trở thành HLV trưởng của CLB khác theo lời mời gọi. Trong đó phải kể đến Carlos Queiroz, một người trợ lý thực sự trách nhiệm, tỉ mỉ và tài năng. Sir đã hết sức ưu ái và quý trọng Carlos, thậm chí nếu kiên nhẫn hơn, chiếc ghế HLV trưởng Man United khi Sir nghỉ hưu chắc chắn thuộc về vị trợ lý cần mẫn này.

Tuy nhiên có một sự kiện không ai ngờ tới vào năm 2003, Real Madrid sa thải Vicente del Bosque và muốn ngỏ ý mời trợ lý HLV Manchester United thay thế. Đội chủ sân Santiago de Bernabeu quá ấn tượng với lối chơi và thành tích của M.U nhưng họ biết chắc chắn rằng mình chẳng thể mời được Sir Alex, vậy nên liên lạc với trợ lý Carlos Queiroz không phải sự lựa chọn tồi.

Ai cũng biết Real Madrid lớn mạnh như thế nào, họ giàu có, không ngại chi và đối xử với HLV trưởng như ông hoàng miễn là vị HLV đó đem lại danh hiệu cho CLB. Biết được chuyện này, Sir Alex đã gặp riêng Carlos và khuyên thật lòng rằng: “Tôi biết thật khó để cậu từ chối lời mời đó. Nhưng cậu phải biết rằng mình sẽ rời CLB xuất sắc nhất. Để đến một nơi mà rất có thể cậu sẽ chỉ ở đó dưới 1 năm, trong khi cậu có thể ở đây cả đời.”

Tuy nhiên khi nhận được cuộc gọi từ Perez, Carlos Queiroz như bị thôi miên và tạm biệt Sir cùng toàn thể CLB, dù ai cũng biết Carlos vẫn còn yêu M.U rất nhiều.

Vậy nhưng mọi tiên liệu của Sir Alex đã trở thành sự thật. Carlos ngồi trên chiếc ghế HLV trưởng Real Madrid vỏn vẹn 10 tháng rồi bị sa thải. Người đàn ông này có tài, nhưng cái tài này có lẽ chưa được rèn giũa đủ. Nhưng may cho Carlos, phía sau luôn có một người thầy đáng kính chờ đợi ông trở về. Carlos thừa nhận rằng mình đã sai, xin lỗi Sir Alex và tiếp tục đồng hành cùng Manchester United. May mắn cho Carlos, vì chẳng phải ai cũng phân biệt được đúng sai và chấp nhận tha thứ vì lợi ích CLB như Sir Alex.

• LỜI XIN LỖI TỪ CẦU THỦ
Lịch sử ghi danh Van Nistelrooy là một trong những tiền đạo có hiệu suất ghi bàn xuất sắc nhất Manchester United. Đến M.U năm 2001 với bản hợp đồng chuyển nhượng kỷ lục của CLB lúc bấy giờ, Van Gol được đặt trên vai rất nhiều kì vọng và may mắn là chàng tiền đạo người Hà Lan đáp ứng trọn vẹn kì vọng đó. Điểm trừ lớn nhất của Van Gol có lẽ là sự ích kỷ. Dẫu biết ích kỉ là đức tính khó tránh của một người tiền đạo. Nhưng cách hành xử không chấp nhận được của Van Gol khi Sir Alex cho anh ngồi dự bị trận chung kết Cúp Liên đoàn. Sir quyết định dùng đủ 3 quyền thay đổi người và không còn chỗ cho tiền đạo người Hà Lan nữa. Hục hặc, mắng chửi Sir và nhất quyết đòi ra đi. Mối quan hệ của Van Gol và Alex Ferguson không thể hàn gắn. Anh hận Sir, khó chịu vì ông không tin tưởng anh thay vì đặt niềm tin vào mấy “thằng nhóc” Ronaldo hay Rooney.

Nhưng mấy ai biết lý do Sir Alex không chọn Van Gol mà chọn Evra, Vidic thi đấu trong thời gian còn lại là để họ có cơ hội tận hưởng cảm giác vô địch cùng Manchester United – điều mà Van Nistelrooy đã được tận hưởng rất nhiều lần rồi.
Cứ thế, Van Gol và Sir, 2 người 2 hướng đi độc lập và tưởng chừng như chẳng bao giờ có thể gặp lại nhau một lần nữa. Vậy mà Giáng sinh năm 2010, 4 năm sau khi Van Nistelrooy rời CLB. Sir Alex Ferguson đã nhận được cuộc gọi xin lỗi từ tiền đạo người Hà Lan. Không lời bào chữa, không giải thích này nọ, không sớm, những chẳng quá muộn. 4 năm để Van Gol trưởng thành hơn trong suy nghĩ và nhận ra rằng, mình đúng là đã có lỗi với Sir Alex thật rồi.

• LỜI XIN LỖI TỪ ĐỐI THỦ
Jose Mourinho không phải cái tên ưa thích đối với dân trong nghề huấn luyện. Kiêu căng, ngông cuồng và thừa tự tin là một số tính từ người ta nói về HLV người Bồ Đào Nha. Jose không ngại gây hấn với bất kỳ ai, miễn là để bảo vệ đội bóng, kết quả trận đấu hay bảo vệ… chính những phát ngôn của mình. Jose đụng độ Sir Alex từ lúc ông còn ở Bồ Đào Nha, khi Porto đối đầu Manchester United tại vòng 1/16 Champions League 2004. Man United đã bị lội ngược dòng sau khi Roy Kean nhận thẻ đỏ từ trọng tài. Sir Alex phản ứng không đồng ý với quyết định này và sau trận đấu đã bị Mourinho châm chọc: “Tôi hiểu sao ông ấy lại phải bức xúc như thế. Ai cũng buồn nếu đội bóng của mình bị đánh bại bởi một đối thủ chỉ có ngân quỹ bằng 1/10 mà thôi”.

Sir không quan tâm đến lời nói của “Người Đặc Biêt” vì trong mắt ông, Jose Mourinho vẫn chỉ là một gã trẻ có tài nhưng chưa đủ tầm khi ấy. Sau khi giác ngộ giải Ngoại hạng Anh bằng việc trở thành HLV trưởng Chelsea cuối năm 2004, Jose Mourinho tiếp tục gây ồn ào với các đối thủ như Arsène Wenger hay Rafael Benítez. Nhưng tuyệt nhiên, ông không hề gây chiến với Sir Alex. HLV người Bồ Đào Nha xin lỗi Sir vì những phát ngôn trong quá khứ và thẳng thắn thừa nhận rằng Sir Alex chính là hình tượng HLV mà ông hướng tới.
Nếu không phải Sir Alex, khó có ai đủ may mắn nhận được lời xin lỗi và ánh mắt ngưỡng mộ từ “Người Đặc Biệt” Jose Mourinho.

• LỜI XIN LỖI TỪ CỔ ĐỘNG VIÊN
Không phải tự nhiên tôi dừng việc “không thích” Sir Alex, và trở thành một cổ động viên thứ thiệt của Sir, dù có phải là fan của Manchester United hay không cũng chẳng quan trọng nữa.
Hình ảnh khiến tôi thay đổi quan điểm hoàn toàn là khi nhìn thấy đôi tay run run của Sir Alex trong trận chung kết Champions League 2011. Đó là một góc quay khá kín, khi ông đã cố che đi đôi tay đang run của mình. Ông sợ rằng các cầu thủ nhìn vào sẽ mất tinh thần nhưng thực sự khi ấy ông đã rất lo lắng. Barcelona quá mạnh, họ lấn át và không cho các cầu thủ M.U san hòa dù họ đã hết sức nỗ lực. Nhìn vào đôi bàn tay run đó, một người ngoại đạo có thể đoán rằng ông già này bị mắc chứng bệnh Parkinson. Còn trong mắt một CĐV bóng đá như tôi, người đàn ông này thực sự sống chết cùng CLB.

Ông nhai đến 4, 5 cái kẹo cao su mỗi trận để duy trì sự tập trung. Ông liên tục chỉ tay vào đồng hồ để gây áp lực cho trọng tài. Dù sau khi nghỉ hưu ông thú thực rằng, nhiều khi ông cũng chẳng biết trận đấu còn bao nhiêu phút nữa, miễn là M.U còn thời gian, tức là còn cơ hội. Người đàn ông này sinh ra không phải ở Manchester, nhưng những gì ông đã làm cho nơi này thì ông chính là một trong những tài sản lớn nhất mà CLB vĩ đại này may mắn có được.
Bây giờ thật khó để tìm được 1 vị HLV tài giỏi như Sir, tầm nhìn rộng lớn như Sir và quan trọng hơn, gắn bó trung thành với CLB như Sir. Manchester vất vả tìm mãi không ra ai đủ tiêu chuẩn như vậy sau 2 năm Sir Alex nghỉ hưu. Đến thời điểm này họ cầu cứu Sir trở lại, kéo lại dây, lái lại con thuyền M.U đang đi lạc.
Nhưng cần phải nhớ Sir Alex giờ đã 74 tuổi rồi. Ông đã từng có ý định nghỉ hưu từ năm 60 tuổi. Vì tình yêu với CLB mà ông tiếp tục gắn bó hơn 10 năm. CĐV xin lỗi vì đã đòi hỏi ông quá nhiều, xin lỗi vì đã chỉ trích ông những khi M.U thất bại… nhưng thực tâm Mancunians luôn biết rõ rằng, sẽ chẳng có ai vĩ đại bằng Sir Alex!

• TẠM KẾT
Giá trị của một người thường được đánh giá bằng những lời khen, bình luận, góp ý, tuyên dương… Nhưng ít ai biết rằng nó còn được thể hiện qua lời xin lỗi. Lời xin lỗi ngoài hàm ý chúc mừng, đó còn mang nghĩa của sự tôn trọng. Những ai đã từng làm dưới thời Sir, sát cánh bên Sir hay thậm chí đối đầu Sir, tất cả họ đều dành cho ông một sự tôn trọng từ trái minh mình.

Năm nay không chúc ông sinh nhật vui vẻ, an nhàn nữa, vì hàng chục triệu người hâm mộ biết rằng ông sẽ khỏe mạnh, sẽ yên bình và sống tốt thôi.
Chúng tôi chúc ông vẫn tiếp tục là ông, đáng kính và giàu lòng nhân ái. Luôn dõi theo United như cách ông vẫn làm hàng chục năm nay. Dù là 74, 75 hay 100 tuổi. Manchester United vẫn mãi là nhà của ông. 

Gem (Trên đường Pitch)

Sao người Việt ta lại khốn khổ và dễ bị lợi dụng đến thế

30.12.15 Add Comment
Quả là đáng lo ngại khi có những cửa hàng mọc trên chính đất nước Việt Nam lại từ chối phục vụ người Việt Nam và càng đáng lo ngại hơn, khi có những người Việt Nam để cho người nước ngoài cụ thể ở đây là người Trung Quốc núp bóng thâu tóm đất đai.



Lại một cửa hàng từ chối bán hàng cho người Việt Nam, dành riêng để phục vụ du khách Trung Quốc. Đó là showroom H.A Cao su thiên nhiên ở 148 Xuân Thủy (quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng), thuộc Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Tuệ Dân.
Ngay sau nhận thông tin, sáng 24/12, lãnh đạo Chi Cục QLTT TP Đà Nẵng cho biết, đơn vị đã lập biên bản xử phạt đối với 2 cửa hàng Sao Đại Hàn và Showroom H.A vì từ chối phục vụ người Việt.
Theo phản ánh từ phóng viên Infonet, showroom H.A Cao su thiên nhiên khẳng định chỉ tiếp khách đoàn Trung Quốc chứ không cho khách Việt Nam vào mua sắm, thậm chí người dân chỉ tới đứng trước cửa showroom này cũng bị bảo vệ đuổi đi.
Không chỉ có showroom H.A Cao su thiên nhiên, shop Sao Đại Hàn (đường Võ Nguyên Giáp, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) cũng chỉ bán hàng lưu niệm cho khách Hàn Quốc và từ chối người Việt Nam.
Việc người Việt Nam bị từ chối phục vụ ở nhà hàng đã từng hơn một lần xảy ra ở các nước. Lý do, tất nhiên “Tiên trách kỉ, hậu trách nhân”, chúng ta không thể không thừa nhận đã từng có một số ít người có hành vi vô văn hóa, thậm chí ăn cắp vặt làm xấu đi hình ảnh của đất nước.
Thế nhưng việc cửa hàng mọc trên đất Việt Nam, chịu sự quản lý của chính quyền Việt Nam mà từ chối phục vụ người Việt Nam là không thể chấp nhận.
Sự phân biệt này, không chỉ xúc phạm danh dự những người Việt Nam mà còn xúc phạm đến uy tín của đất nước. Những “thượng đế” người Hàn Quốc, Trung Quốc sẽ nghĩ gì khi mà cửa hàng dành cho họ một “đẳng cấp cao” còn người Việt Nam chúng ta lại bị coi như một “đẳng cấp thấp”.
Về mặt lý, đó là phân biệt đối xử còn về tình, còn đâu tình nghĩa đồng bào?
Có lẽ cũng cần nói thêm, gần đây, Đà Nẵng đã và đang xảy ra những vấn đề phức tạp. Đó là hiện tượng người Trung Quốc đứng sau, nhờ người Việt mua đất ven biển Đà Nẵng.
Theo báo Người lao động, trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đã có 7 công ty có người Trung Quốc góp vốn đầu tư đứng tên mua 74 lô đất. Ngoài ra, có 71 cá nhân người Việt đứng tên mua 138 lô đất dọc vệt biệt thự sân bay Nước Mặn, phường Khuê Mỹ, tập trung đối diện Cty Sliver Shores.
Trong đó, đã xác định 1 trường hợp người Việt Nam là ông Phạm Văn Hùng (phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà) đứng tên mua 3 lô đất với số tiền 5 tỉ đồng cho ông Chiu J.Tase (A.Chiu), quốc tịch Đài Loan.
Hiện nay, số người Trung Quốc tạm trú trên địa bàn là 302 người (222 lao động, 80 du lịch lưu trú dài hạn). Ngoài ra, số lưu trú ngắn ngày trong các khách sạn, resort tính từ 1.12.2015 đến nay là 2.710 người.
Tại buổi gặp gỡ cán bộ quân đội nghỉ hưu cấp tướng và chỉ huy cũ qua các thời kỳ nhân Ngày Quân đội nhân dân Việt Nam do UBND TP Đà Nẵng tổ chức vào chiều 19.12, ông Lê Công Thạnh - nguyên Đại tá, Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Đà (cũ) - bày tỏ sự lo ngại:
"Cá nhân tôi cũng như một số cán bộ quân sự đã về hưu băn khoăn xung quanh việc người Trung Quốc chọn tập trung ở ven biển, gần sân bay Nước Mặn. Tôi đề nghị thành phố kiên quyết nghiên cứu, quản lý, điều chỉnh. Nếu cần, dự án ven biển nào không cần thiết, rút bớt đi. Việc làm đó có thể làm được vì đúng luật pháp, đúng yêu cầu thành phố".
Vâng, quả là đáng lo ngại khi có những cửa hàng mọc trên chính đất nước Việt Nam lại từ chối phục vụ người Việt Nam và càng đáng lo ngại hơn, khi có những người Việt Nam để cho người nước ngoài cụ thể ở đây là người Trung Quốc núp bóng thâu tóm đất đai.
Chả lẽ người Việt ta lại khốn khổ và dễ bị lợi dụng đến thế, phải không các bạn?

Theo DÂN TRÍ

Ném đá bầy đàn - lối hành xử dã man trong thế giới ảo

30.12.15 Add Comment
Phải chăng vì mạng là ảo, mỗi người ẩn sau một cái nick (biệt danh) nên người ta tha hồ quẳng vào mặt người khác những “cục đá” to tướng và gây ra những tổn thương không dễ lành?





Câu chuyện thứ nhất bắt đầu từ một câu thế này: “Tui chưa làm việc với ai mà khó chịu và muốn chửi thề như với nhà thiết kế T. Từ nay về sau tui cạch, không dám làm việc với “người nổi tiếng” này nữa. Chảnh chó khó chịu!”. Đó là dòng status (trạng thái) của một phóng viên và ngay sau đó là những bình luận nhiều chiều: có người kêu gọi “khổ chủ” bình tĩnh, cũng có người té nước theo mưa.
Đặc biệt, có người đã bình luận hết sức nặng nề: “Bởi vậy mấy người nổi tiếng Việt Nam thua và thiếu tư cách hơn mấy người nổi tiếng nước ngoài là thế”. Không ai biết nhà thiết kế kia đã làm gì để phóng viên nọ bực tức, và cũng không ai biết nguyên nhân và diễn biến sự việc thực tế như thế nào, chỉ có mỗi một dòng thông tin ngắn ngủi như trên mà đã xuất hiện những lời bình đủ sức khiến người trong cuộc đau như cắt.
Câu chuyện thứ hai xảy ra ở một diễn đàn dành cho các bà mẹ. Vụ việc một cô giáo ở Hà Nội thiếu sót trong công tác chấm bài (đáng lẽ ra phải ghi rõ lời nhận xét vào giấy kiểm tra thay vì chỉ nhận xét trong lớp) đã nhanh chóng được khuếch đại trên mạng và những thông tin trên báo được diễn đàn này đăng lại, thu hút rất nhiều bình luận. Nguoi.ha.noi nói: “Giảng dạy thảm họa, chấm bài thảm họa, lại còn ngụy biện, chối tội...”.
Những người nói rõ việc cô giáo đã xin lỗi và phân tích rõ lỗi của cô là lỗi nghiệp vụ cũng bị không ít thành viên khác cho là “vị tình” và cứ khăng khăng khẳng định cô giáo bị mắc lỗi nhận thức rồi “buồn” vì cô là thạc sĩ 10/10 mà lại như thế! Đau đớn vì áp lực của dư luận, cô giáo trẻ đã nhập viện.
Quá ngao ngán, thành viên Wiboo bình luận: “Qua vài vụ việc gần đây, mình thấy trên web này có nhiều người thích đóng vai “người hùng”, tức là cứ muốn người ta phải bị dìm xuống đáy bùn may ra mới hả hê. Thấy sợ miệng lưỡi thiên hạ thật!”.
Câu chuyện thứ ba về trường hợp của hoa hậu vừa đăng quang. Khi đăng quang, hoa hậu khẳng định không tham gia vào làng giải trí, ngay sau đó có một poster quảng cáo chương trình giải trí ở Mỹ có hình ảnh của cô, thế là cô bị “ném đá” vì đã... nói láo!
Sau đó, người quản lý của cô lên tiếng khẳng định rằng cô không có mặt trong chương trình này, hình ảnh của cô xuất hiện trên poster là do ông bầu của chương trình tự ý đưa vào. Ông bầu của chương trình lại lên tiếng. Cuối cùng, để khép lại sự việc, hoa hậu đã trả lời phỏng vấn với nội dung xoa dịu cả hai bên và tái khẳng định cô không tham gia chương trình đó.
Bài báo phỏng vấn hoa hậu được đưa “lên thớt” và thu hút đến 182 lượt bình luận với đầy đủ nhận xét các kiểu và có rất nhiều lời chê bai, mỉa mai, gọi hoa hậu là “mặt dày”. Còn những người hâm mộ hoa hậu trên diễn đàn này cũng không kém cạnh khi chửi những người mắng hoa hậu là “con” nọ “con” kia...
Có n câu chuyện tương tự như thế đã và đang xảy ra trong không gian ảo. Có phải là vì mỗi người ẩn sau một biệt danh nên người ta sẵn sàng “ném đá”, chửi bới, bình luận cay độc một cách thỏa thích mà không hề nghĩ rằng mình đang làm người khác “sây sát”?
Ông bà nói “Lời nói đọi máu” để dặn dò con cháu trong việc đối nhân xử thế, phải cân nhắc trước khi buông những lời lẽ nặng nề vì ngôn từ có khả năng gây tổn thương. Đáng tiếc, lời nói không mất tiền mua, trong thế giới ảo nhiều người chẳng muốn “lựa lời” mà cứ mặc sức tung ra những lời cay độc. Ảo làm cho người ta ác hơn, nói năng văng mạng hơn chăng...!?

Theo TUỔI TRẺ ONLINE

Cái cần thì không có

29.12.15 Add Comment
Tôi làm việc cho một tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ giải trí. Gần đây, do nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh, chúng tôi tuyển dụng rất nhiều vị trí.



Mặc dù thông tin tuyển dụng được đăng trên nhiều kênh, yêu cầu về chuyên môn không quá khắt khe, mức lương khởi điểm cao hơn mặt bằng chung và bộ phận nhân sự đã đưa ra nhiều ''chiêu'' để hấp dẫn ứng viên; sau vài tháng, chúng tôi nhận được không đủ số hồ sơ đáp ứng được nhu cầu.

Vì vậy, khi biết thông tin mới công bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong đó nêu rõ có tới 225.500 cử nhân và thạc sĩ đang bị thất nghiệp, chưa kể tới hơn 117.000 người tốt nghiệp cao đẳng chuyên nghiệp các ngành, tôi thoáng giật mình. Phải chăng có sai sót nào đó trong công ty của chúng tôi làm cho các ứng viên không mặn mà? Tuy nhiên, thoáng giật mình đó mau chóng trôi qua khi tôi nhớ lại kinh nghiệm phỏng vấn ứng viên của mình.

Làm việc ở vai trò quản lý nhiều năm, tôi có nhiều dịp phỏng vấn các ứng viên. Có nhiều người không biết phải làm cái Hồ sơ xin việc (CV) như thế nào. Có người bằng cấp rất đẹp, điểm các môn học cao chót vót, nhưng khi phỏng vấn thì không thể nói một câu cho đĩnh đạc. Có vài người có chút khả năng cũng như kỹ năng sống thì lại quá tự tin, đề xuất cho mình những thứ mà nhẽ ra họ phải nỗ lực làm việc nhiều năm mới có được.

Tôi trao đổi chuyện này với các bạn bè của tôi, là chủ các doanh nghiệp, thì đều nhận được câu trả lời như nhau rằng, việc cần người rất nhiều, nhưng người phù hợp công việc lại quá thiếu. Các doanh nghiệp hiện nay chịu nhiều áp lực kinh doanh nên họ chỉ muốn tuyển người có thể làm việc được ngay mà không cần phải tốn thời gian đào tạo lại. Trong khi đó, nhiều cử nhân, thạc sĩ mới ra trường ở ta còn rất ngây ngô. Thậm chí có người tốt nghiệp loại giỏi nhưng không rành kỹ năng tin học văn phòng, không biết cả cách sử dụng công cụ tra cứu Google để tìm tài liệu cần thiết cho công ty. Có lần tôi nhờ cô nhân viên mới soạn thảo một văn bản mà cô phải sửa đi sửa lại nhiều lần, cuối cùng tôi nản quá đành cho nghỉ việc.

Ngoại ngữ là một vấn đề khác. Tôi biết rằng đem so trình độ ngoại ngữ của sinh viên nước ta với sinh viên nước ngoài là không thể. Nhưng việc học giao tiếp đơn giản cũng không khó đến mức phần lớn ứng viên không đáp ứng được. Trong thời đại này, việc không biết ngoại ngữ chắc chắn là một khiếm khuyết rất lớn trong hồ sơ xin việc của các bạn trẻ. Tôi nghĩ các bạn cũng ý thức được việc này nhưng không hiểu sao họ không dành thời gian cho nó.

Chê trách cử nhân, thạc sĩ nhưng chúng ta cũng không thể không nói đến vai trò của các cơ sở đào tạo, các bậc phụ huynh và những nhà hoạch định nguồn nhân lực. Việc thu nhận sinh viên ồ ạt, đánh vào tâm lý sính đại học của dân ta làm cho chất lượng tuyển sinh đầu vào rất kém. Các bậc phụ huynh thay vì định hướng nghề nghiệp phù hợp với mong muốn và khả năng của con em mình lại cố hết sức để cho con được học đại học, thỏa khao khát bằng cấp dù tương lai con em mịt mù phía trước.

Những người đáng ra chỉ đủ khả năng đi học nghề nay cũng thành cử nhân rồi không biết làm gì lại học tiếp lên thạc sĩ, làm cho số cử nhân, thạc sĩ có trình độ thấp ngày càng nhiều. Nhiều ngành nghề có nhu cầu cao thì chỉ tiêu tuyển sinh lại rất ít. Trong khi đó những ngành nghề như Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng... lại quá nhiều. Từ đó dẫn tới tình trạng, lao động tay nghề cao quá thiếu, còn các ông bà cử phải giấu bằng đi để xin làm lao động phổ thông thì ngày càng nhiều.

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp nhận xét: Nhóm người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên vẫn có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất và có xu hướng tăng. Điều này nghe qua có vẻ như là một nghịch lý. Nhưng cá nhân tôi thấy chuyện không có gì lạ.

Trở lại với câu chuyện công ty tôi, dù chưa tuyển đủ, chúng tôi chắc chắn không thể thay đổi tiêu chí. Tuyển một người lao động không làm được việc không chỉ tốn kém mà còn gây rất nhiều phiền phức.

225.500 cử nhân và thạc sĩ, nếu muốn hết thất nghiệp, trước hết phải hiểu rằng, ngoài cái bạn có (bằng cấp), phải mang đến cho nhà tuyển dụng cái họ cần.

Lê Tư

Giao lưu công nghệ quân sự giữa Đại Việt và Trung Hoa

29.12.15 Add Comment
Trao đổi văn hóa diễn ra hai chiều và điều này cũng áp dụng cho sự lan truyền công nghệ quân sự giữa Trung Quốc và Đại Việt. Mặc dù Đại Việt ban đầu học công nghệ thuốc súng từ Trung Quốc, người Việt cũng xuất khẩu một số kỹ thuật sang vùng đất phương Bắc.

Trong số ra tháng Mười 2003, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (Journal of Southeast Asian Studies) của Đại học quốc gia Singapore giới thiệu chuyên đề về sự chuyển giao quân sự từ bên ngoài vào Đông Nam Á.
Chùm ba bài tiểu luận đặt trong chủ đề chung “Foreign military transfers in mainland Southeast Asian wars: adaptations, rejections and change.”
Trong phần giới thiệu, giáo sư Christopher E. Goscha, đại học Lyon II, viết:
“Như tại châu Âu, việc chuyển giao, thích ứng và sử dụng kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài đã đóng góp nhiều vào sự phát triển của các nhà nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ để viết về những sự chuyển giao quân sự đó tại Đông Nam Á. Sau nhiều thập niên dưới chế độ thuộc địa phương Tây, chưa kể các cuộc chiến giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Indonesia, các kiến trúc sư quá khứ, mang quan điểm dân tộc chủ nghĩa, muốn chọn cách nhấn mạnh yếu tố ‘bản địa’ và ‘chân thật’ thay vì ngoại lai.”
“Việc đưa các đóng góp ‘phương Tây’ và ‘Hoa kiều’ vào bức tranh chung có thể gây vấn đề cho các sử gia dân tộc chủ nghĩa, những người muốn nhấn mạnh vai trò của dân tộc họ trong việc xây dựng quốc gia và quá khứ của nó.”
“Mặc dù ba bài viết ở đây lưu ý các quan tâm ‘quốc gia’ và ‘khu vực’, nhưng chúng cũng dựa trên niềm tin rằng không quốc gia hay khu vực nào là một hòn đảo – cũng như quá khứ của quốc gia đó. Bản chất tương liên của Đông Nam Á, vị trí của nó ở giao lộ các tuyến thủy-bộ chính và sự đa dạng trong văn hóa-xã hội khiến các quan niệm về sự tự chủ quốc gia và khu vực khó đứng vững. Điều này đặc biệt đúng khi ta tìm hiểu dòng lưu chuyển kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài vào Đông Nam Á lục địa.”
Trong ba bài tiểu luận, một bài của Sun Laichen xem xét sự du nhập công nghệ từ nhà Minh vào Đông Nam Á lục địa thời kì từ 1390 đến 1527. Nhìn từ phía nam, Frédéric Mantienne tập trung vào chuyển giao quân sự của Pháp vào Việt Nam trong thế kỷ 18 và đầu 19. Bài của Christopher E. Goscha tìm hiểu dòng chảy vũ khí vào Việt Nam qua các ngả đường châu Á từ 1905 đến 1954.
Bài viết của Sun Laichen, giáo sư đại học bang California, Fullerton, bao quát cả khu vực Đông Nam Á, tuy vậy trong một bài tiểu luận khác (sẽ xuất bản trong tập Vietnam: Borderless Histories, Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid biên tập, University of Wisconsin Press, 2004), ông tập trung hẳn cho chủ đề Đại Việt. Bài viết có tựa đề “Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 1390-1497.” Nội dung nghiên cứu này sẽ mở đầu cho loạt bài về du nhập công nghệ quân sự giới thiệu lần này.
Xin lưu ý các bài viết trình bày ở đây chỉ mang tính giới thiệu, tóm tắt nội dung chính, chứ không phải là bản dịch lại trọn vẹn văn bản gốc. Người đọc quan tâm có thể tìm đọc nguyên bản trong Journal of Southeast Asian Studies (Đại học quốc gia Singapore, tháng Mười 2003)
Thế kỷ 15 chứng kiến Việt Nam (Đại Việt – quốc hiệu có từ thời nhà Lý) mở rộng cương vực rộng lớn chưa từng có. Sự bành trướng này bao gồm sự kiện nổi tiếng năm 1471 khi kinh đô Vijaya của Chămpa thất thủ trước quân Lê Thánh Tông, và cuộc “trường chinh” ít người biết của Đại Việt đến sông Irawaddy của Miến Điện khoảng giữa 1479 và 1484. Trong chủ đề bài viết của Sun Laichen, câu hỏi chính đặt ra là vì sao, sau hàng trăm năm đối đầu với Chămpa, Đại Việt lại có thể đánh quỵ Chămpa vào thời điểm này?
Việc chuyển giao công nghệ quân sự từ Trung Quốc vào Việt Nam đã có từ lâu, nhưng một diễn biến quan trọng xảy ra đầu thời Minh. Năm 1390, vua Chế Bồng Nga của Chămpa bị giết khi trúng đạn của quân nhà Trần. Loại súng được dùng để bắn vào thuyền vị vua họ Chế trước nay thường được hiểu là thần công, nhưng có lẽ nên hiểu đó là súng cầm tay. Như Momoki Shiro – đại học Osaka, Nhật Bản – chỉ ra, đó là loại vũ khí mới.
Năm 1839, Việt Nam mua con tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi.
Nội chiến thế kỷ 18
Mặc dù các chúa Trịnh và Nguyễn rất nhiệt tình trong việc thu lượm các súng kiểu phương Tây trong thế kỷ 17, nhưng có vẻ họ ít quan tâm đến các công nghệ liên quan việc đắp đồn lũy và đóng tàu. Việc ‘nhập khẩu’ công nghệ quân sự phương Tây chỉ trở nên đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến Tây Sơn. Sau một chiến thắng chủ chốt của Tây Sơn năm 1773, và cái chết sau đó của hầu hết các hoàng tử nhà Nguyễn, người cuối cùng còn lại – Nguyễn Ánh – bị buộc chạy sâu vào trong đồng bằng sông Cửu Long. Trong năm 1776 hoặc 1777, vị hoàng tử trẻ làm quen với một nhà truyền giáo Pháp, Pierre Pigneaux de Béhaine (tức Bá Đa Lộc), linh mục xứ Adran, lúc đó đang sống ở Hà Tiên. Pigneaux thuyết phục vị hoàng tử nhà Nguyễn là ông chỉ có thể là đối trọng với sức mạnh Tây Sơn bằng cách sử dụng thiết bị và chiến thuật của châu Âu.
Nghệ thuật xây thành đắp lũy đã có từ rất xưa ở Việt Nam. Ngôi thành lớn xưa nhất là thủ đô của An Dương Vương tại Cổ Loa, cách trung tâm Hà Nội 15 cây số. Đến cuối thế kỷ 14, Hồ Quý Ly cho xây thành Tây Đô ở tỉnh Thanh Hóa. Trong thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông lệnh cho xây nhiều thành ở Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Hới. Một số thành tại Hà Nội và Thanh Hóa được dựa trên mô hình thành Trung Hoa hình vuông, còn các thành trong khu vực rừng núi xây theo mô hình rừng núi, tương tự như Vạn Lý Trường Thành. Sang thế kỷ 17, các chúa Nguyễn xây một hệ thống phòng thủ phức tạp trên vùng ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài để chống các đợt chinh phạt của nhà Trịnh từ Đàng Ngoài. Hệ thống này gồm nhiều lũy (Trương Dực và Đồng Hới), dài khoảng 10 cây số, với một pháo đài ở Dinh Muôi, nơi tập trung bản doanh, kho thóc và bộ máy hành chính tỉnh Quảng Bình. Lũy Đồng Hới đánh dấu biên giới giữa hai vương quốc đất Việt, hiệu quả đến mức sau nhiều cuộc tấn công không thành của nhà Trịnh, hai vùng ở trong tình trạng tạm yên ắng trong một trăm năm.
Trong những thế kỷ trước đó, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong có điểm đáng chú ý là cả hai miền đều không có những đội thuyền buôn.
Trong thế kỷ thứ sáu, các lãnh đạo địa phương chống lại sự chiếm đóng của các triều đại Trung Quốc suy thoái, nhưng đến đầu thế kỷ thứ bảy họ không có sự chống đỡ hiệu quả nào trước sự hiện diện của các nhà Tùy và Đường. Trong hai thế kỷ bảy và tám, các quan nhà Đường thành lập An Nam Đô hộ phủ ở miền Bắc Việt Nam. Đô hộ phủ là một dạng khu vực có tổ chức ở vùng biên giới tạo ra cho các khu vực chiến lược xa xôi mà cư dân là những người không phải dân Trung Quốc. Việc thiết lập An Nam Đô hộ phủ đi kèm với việc thâu thập, sát nhập giai cấp thống trị địa phương vào hệ thống phân tầng quan chức của đế chế. Chừng nào thế lực nhà Đường còn mạnh, khu vực này vẫn tương đối bình yên. Nhưng cuối thế kỷ tám và thế kỷ chín là giai đoạn bất ổn chính trị, với những thế lực địa phương tranh giành quyền lãnh đạo với tư cách là người ủng hộ hoặc chống đối chế độ nhà Đường mà ngày càng trở nên yếu kém; đến cuối thế kỷ Chín, triều đình Trung Quốc đã suy giảm ảnh hưởng đến mức chỉ còn đưa quân tiến vào khu vực với mục đích duy trì sự toàn vẹn biên giới mà thôi.
Lý Phật Mã (Lý Thái Tông, trị vì 1028-54) sinh năm 1000 và đã được chuẩn bị cẩn thận để lên làm vua. Nhiều điềm báo được gán cho lúc ông sinh ra và trưởng thành, để nói ông có một định mệnh của riêng mình chứ không đơn thuần là người kế vị cha. Thành tựu của ông là tạo ra các định chế cho triều Lý, và ông được xem là vị vua vĩ đại nhất của triều Lý cũng như là một trong những vị vua giỏi nhất trong lịch sử Việt Nam. Nghiên cứu 26 năm cai trị của ông cũng có thể xem là nghiên cứu về tiến trình phát triển của một bộ óc thông minh, phức tạp. Hơn bất kì vị vua nào khác của Việt Nam thời kì đầu lịch sử, Lý Phật Mã được các nguồn sử liệu thể hiện như một nhân cách sống động tranh luận với các cố vấn, và quan hệ giữa họ là một quan hệ khuyế́n khích lẫn nhau. Nếu Lý Công Uẩn chỉ sử dụng một niên hiệu trong những năm trị vì, Lý Phật Mã sử dụng sáu niên hiệu, mỗi cái thể hiện một giai đoạn trong sự phát triển tri thức của ông và một phong cách lãnh đạo tương ứng.
Các nguồn tư liệu Trung Quốc thể hiện Lý Nhật Tôn (Lý Thánh Tông, trị vì 1054-72) như vị vua Việt dám xem mình là hoàng đế, một điều đối với người Trung Quốc là sự thách thức trực tiếp với cái nhìn về thế giới của họ. Quan điểm Trung Hoa này có thể chỉ là một cách viết sử xuất phát từ cuộc chiến Hoa-Việt thập niên 1070, một công thức biện minh cho quyết định sau đó gửi quân chống Đại Việt. Nhưng ngay cả nếu quả tình là thế, thì vẫn có nhiều bằng chứng từ sử Việt Nam cho thấy Lý Nhật Tôn áp dụng nhiều nghi thức hoàng đế của Trung Quốc, từ việc nêu quốc hiệu, quần áo các quan, cho đến phẩm trật của quan lại, thành viên hoàng tộc và miếu hiệu cho các vua đi trước. Ngoài ra, trong thời cai trị của Lý Nhật Tôn đã diễn ra việc biên giới Hoa-Việt trở thành địa điểm đối đầu.
Phe nhà Trần cuối cùng thành công trong việc đánh bại các đối thủ và lập vương triều mới năm 1225.
Để tránh nguy cơ gia đình nhà ngoại can thiệp triều chính, các vua Trần chỉ lấy hoàng hậu từ họ Trần. Vào lúc tột đỉnh sức mạnh, các vua Trần ra quyết định tham khảo ý kiến của các chú, anh em – tạo nên sự đoàn kết trong nội bộ hoàng gia. Triều Trần bắt đầu sụp đổ khi những quy tắc đó không còn được tuân theo.
Lê Lợi, một địa chủ giàu có từ Thanh Hóa, nơi đồng bằng sông Mã, đã lập nên nhà Lê. Ông chỉ tại vị trong năm năm. Những người kế tục sau đó là con trai và cháu của ông, tất cả đều lên ngôi khi còn nhỏ và triều đình nằm trong tay các tướng lĩnh từng theo Lê Lợi trong kháng chiến chống Minh. Năm 1460, một người cháu khác của Lê Lợi, Lê Thánh Tông, lên ngôi. Thời gian ông trị vì, từ 1460 đến 1497, được nhớ như là một trong những triều đại nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam. Mô hình chính quyền của ông đã trở thành khuôn mẫu cho các vị vua Việt Nam trong năm thế kỷ tiếp theo. Đây là thời đại của học thuật và văn chương: các tác phẩm quan trọng ra đời và còn lại đến nay. Đó cũng là thời đại của sức mạnh quân sự, khi các cuộc chinh phục Lào và Chămpa thập niên 1470 đã mở rộng lãnh thổ. Sự nghịch lý của triều đại Lê Thánh Tông nằm ở chỗ, mặc dù nó tạo nên bộ máy chính quyền hoàn chỉnh, nhưng chỉ mười năm sau khi ông mất, triều đình đã rơi vào cuộc khủng hoảng mà nó không bao giờ còn gượng dậy nổi.
Đại Việt thời Hậu Trần – Hồ
Các quan điểm giải thích chính trước nay có thể tóm tắt như sau:
Đầu tiên, luận điểm về nông nghiệp và dân số: quan điểm này cho rằng sự tăng dân số của Đại Việt vừa tạo động lực lại vừa đem lại lợi thế cho tiến trình Nam tiến của người Việt. Chiến thắng của người Việt, tóm gọn lại, là chiến thắng của biển người.
Thứ hai, luận điểm về sự chuyển hóa Khổng giáo cho rằng cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1406-1407 dẫn tới việc người Việt áp dụng mô hình Trung Hoa kiểu nhà Minh, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497), khiến nhà nước Việt Nam được chuyển hóa. Cụ thể, Đại Việt bám lấy hệ tư tưởng của Trung Hoa “văn minh đối nghịch dị chủng” và áp dụng nó trong quan hệ với Chămpa. Như lời của John K. Whitmore, một trong những chuyên gia nổi tiếng về triều Lê: “Giờ đây câu hỏi về đạo đức chiếm vai trò trung tâm và đánh dấu sự khác biệt giữa người “văn minh” và người “man di”. Sự tương đối văn hóa không còn ngự trị , và các cuộc tấn công cũng thôi không còn là các cuộc cướp phá để sau đó một hoàng tử địa phương khác được đặt lên ngôi. Giờ đây mục tiêu là đem ‘văn minh’ cho các địch quốc dị chủng.” Nói cách khác, người Việt phải chiếm vĩnh viễn Chămpa để khai hóa cho dân tộc đó.
Thứ ba, luận điểm về định chế. Nếu lý thuyết về Khổng giáo giải thích sức mạnh thể chế của Đại Việt, sự diễn giải định chế giải thích yếu kém của Chămpa. Theo Kenneth R. Hall, Chămpa là “một hệ thống nhà nước được thể chế hóa yếu ớt phụ thuộc vào các mạng lưới liên minh cá nhân để liên kết một dân số tản mác.” Kết quả là sự yếu kém thể chế cố hữu của nhà nước Chăm cuối cùng đóng dấu số phận của nó.
Thế bài của Sun Laichen có gì khác? Nghiên cứu của ông tiếp cận vấn đề từ góc độ kỹ thuật bằng cách xem xét khía cạnh công nghệ quân sự. Nó cho rằng hỏa khí lấy từ gốc Trung Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tiến về miền Tây, Nam của Đại Việt trong cuối thế kỷ 15.
Vũ khí Đại Việt thời kỳ đầu
Để hiểu tầm quan trọng của chiến thắng năm 1390 của Đại Việt, cần nhớ trong suốt nhiều năm trước đó, sức mạnh của vua Chế Bồng Nga là nỗi kinh hoàng cho nhà Trần. Trong ba thập niên (1361-1390), Chế Bồng Nga thực hiện khoảng mười cuộc xâm lăng vào Đại Việt, và thủ đô Thăng Long rơi vào tay quân Chàm ba lần. Khi tướng Trần Khát Chân được cử đi chống quân Chămpa, vua tôi nhà Trần cùng khóc giữa lúc quân tiến lên đường. Giữa lúc khủng hoảng đó, thì một đầy tớ của họ Chế vì bị tội, trốn sang quân Trần chỉ cho biết thuyền của vua Chế. Tướng Trần Khát Chân cho tập trung hỏa lực bắn vào thuyền Chế Bồng Nga, Chiêm vương trúng đạn chết, quân tướng bỏ chạy. Trong tác phẩm về lịch sử Chămpa, học giả Pháp Maspero cho rằng sự phản bội của người đầy tớ Chàm đã ngừng bước tiến của quân Chàm và cứu Đại Việt khỏi sụp đổ. Tuy vậy, nếu không có kỹ thuật thuốc súng mới thu lượm, chiến thắng thủy chiến của Đại Việt, cũng như số phận vương quốc, sẽ không chắc chắn. Vì thế, năm 1390 được nhiều người xem là đánh dấu sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa Đại Việt và Chămpa. Có vẻ như hiệu quả của công nghệ quân sự mới của Đại Việt đóng một vai trò trong thay đổi này.
Mặc dù nguồn gốc của loại súng cầm tay của Đại Việt không được nhắc rõ, có thể suy đoán nó được học hoặc từ các thương nhân hoặc từ những binh lính đào ngũ nhà Minh trước năm 1390. Dường như việc áp dụng súng tại Đại Việt đã tăng nhu cầu về thuốc súng, giống như vào năm 1396, nhà Hậu Trần dưới sự kiểm soát của Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy và yêu cầu nhân dân đổi lại tiền đồng, có thể một phần với mục đích thu thêm đồng để sản xuất súng.
Sự xâm lăng và chiếm đóng của nhà Minh tại Đại Việt từ 1406 đến 1427 thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ quân sự từ Trung Quốc. Nhà Minh đã huy động các vị tướng và binh lính thiện chiến nhất cho chiến dịch tấn công Đại Việt. Để đối phó với hỏa khí của Đại Việt, vua Minh Thành Tổ ra lệnh sản xuất các khiên lớn và dày. Ông ra lệnh không được để lộ kỹ thuật làm súng cho đối phương, phải bảo đảm là khi rút quân, súng “phải được đếm theo số hiệu và không để một khẩu súng nào thất lạc.” Trong số 215.000 quân Minh tham gia chiến dịch viễn chinh, khoảng 21.000 lính thuộc khẩu đội được vũ trang bằng súng.
Ngày 19 tháng 11-1406, quân Minh do Trương Phụ dẫn đầu tiến vào từ Quảng Tây, còn đội quân của Mộc Thạnh tấn công từ Vân Nam. Sau các thắng lợi ban đầu, quân Minh tổ chức đánh thành Đa Bang, thuộc Sơn Tây, là tiền tuyến của quân Hồ. Việc chiếm thành Đa Bang bộc lộ vai trò quan trọng của súng ống của quân Minh. Đa Bang là vị trí chiến lược quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống phòng thủ khi ấy của Đại Việt, và nhà Hồ tập trung quân tướng và vũ khí tốt nhất để phòng thủ nơi này. Trận tấn công bắt đầu ngày 19 tháng Giêng, 1407. Khi quân Minh dùng thang ập vào thành mà leo lên, những người lính Việt chỉ có thể bắn vài mũi tên và đạn. Sau khi vào thành, quân Minh đối diện với các đoàn voi trận. Quân Minh vẽ hình sư tử trùm lên ngựa để làm voi sợ, và đặc biệt, nhóm quân súng thần cơ đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của quân Minh. Các đoàn voi trận Đông Nam Á vốn vẫn là đối thủ đáng gờm trước quân Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, nhưng trước hỏa lực mạnh của đối phương, voi đành bỏ chạy. Khi Đa Bang vỡ, quân nhà Hồ không còn ngăn được đà tiến về miền đông và nam của quân Minh. Ngày 20 tháng Giêng, Đông Đô (Thăng Long) sụp đổ, và sáu ngày sau, Tây Đô (vùng Thanh Hóa) cũng rơi vào tay quân viễn chinh.
Trong các trận chiến sau đó, súng của quân Minh cũng chứng tỏ hiệu quả. Ngày 21 tháng Hai, trên Lục giang, quân Minh huy động thủy – lục quân với nhiều loại súng, tấn công 500 chiến thuyền của Hồ Nguyên Trừng, giết chết hơn 10.000 lính Việt. Một nguồn sử Trung Hoa mô tả trận chiến là “súng bắn ra như sao rơi, sét đánh.” Đầu tháng Năm 1407, một trận lớn diễn ra ở bến Hàm Tử, Hưng Yên. Nhà Hồ huy động lực lượng đáng kể (70.000 quân) và nhiều chiến thuyền kéo dài trên sông đến năm cây số. Mặc dù quân Hồ cũng sử dụng súng chống trả, nhưng hỏa lực quân Minh vẫn đủ sức tạo chiến thắng, với 10.000 lính Việt tử trận. Ngày 16-17 tháng Sáu 1407, quân Minh kết thúc chiến dịch với việc bắt sống Hồ Quý Ly và các con. Chiến thắng nhanh chóng khiến tướng Hoàng Phúc bình luận: “Thành công nhanh chóng thế này chưa bao giờ xảy ra trong quá khứ.”
Đại Việt dưới thời Hồ Quý Ly đã chuẩn bị cho khả năng bị xâm lăng từ sớm, và huy động một lực lượng quân đội lớn chưa từng thấy. Tuy vậy, chế độ nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng. Lý do, bên cạnh các yếu tố khác như bất mãn của tầng lớp quý tộc và dân chúng trong nước, sai lầm chiến lược, còn là ưu thế quân sự, bao gồm súng đạn, của nhà Minh.
Đại Việt áp dụng kỹ thuật súng
Tuy nhiên, quân Minh dần dần đánh mất ưu thế công nghệ này vì đối phương của họ, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, cướp ngày càng nhiều vũ khí của quân Minh trong các trận đánh năm 1418, 1420, 1421, 1424 và 1425. Ví dụ như trận Ninh Kiều cuối năm 1426. Trước đó, quân Minh ở Đông Quan (Thăng Long) đã sử dụng súng để chống đỡ đợt vây ráp của quân Lê Lợi. Người Việt rút lui, và quân Minh đuổi theo. Khoảng 100.000 quân Minh do Vương Thông và các tướng khác dẫn đầu bị phục kích và chịu thất bại thảm hại. Điều quan trọng cho chủ đề ta đang bàn ở đây là trong số quân Minh có 510 người lính thuộc đơn vị quân súng thần cơ. Vì thua trận, quân Minh mất gần hết vũ khí. Sau khi lui về Đông Quan, họ buộc phải tái sản xuất súng đạn, sử dụng chất liệu đồng từ việc phá hủy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh (được gọi là hai trong số bốn tứ bảo của Việt Nam).
Chiến thắng Ninh Kiều có hai tầm quan trọng cho quân Lê Lợi. Thứ nhất, đây là lần họ thu được nhiều nhất súng ống của quân Minh, khiến trang bị được tăng cường. Thứ hai, trận đánh là điểm bước ngoặt trong phong trào chống Minh của Đại Việt. Đến tháng 12-1426, Lê Lợi đã đưa quân ra vây Đông Quan.
Ngoài ra, những tù binh và hàng tướng quân Minh cũng dạy lại cho người Việt các kỹ thuật quân sự. Trong số hàng binh, có lẽ viên sĩ quan có tên Cai Fu là nhân vật cao cấp nhất. Ông ta đã đóng vai trò lớn giúp quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407, nhưng đến đầu năm 1427, ông đầu hàng và dạy cho quân của Bình Định Vương Lê Lợi các kỹ thuật đánh thành mà sau đó sẽ dùng để lấy Xương Giang và Đông Quan.
Các loại vũ khí, thu được hay chế tạo mới, đã giúp quân Đại Việt đánh đuổi quân Minh. Điều này đặc biệt thể hiện trong việc vây thành Xương Giang, có lẽ là cứ điểm quan trọng nhất của quân Minh đầu năm 1427. Quân Minh dựa vào đây để hỗ trợ Đông Quan trong lúc chờ viện binh từ Trung Quốc. Vì thế, quân Đại Việt quyết chiếm lấy Xương Giang trước khi viện binh Trung Quốc đến từ Vân Nam. Lê Lợi đã vây thành này hơn sáu tháng, nhưng vẫn chưa đánh được. Khoảng hai ngàn lính Minh đã dùng súng và máy bắn đá để bảo vệ thành phố. Cuối cùng, khoảng 80.000 chiến binh Đại Việt đã cướp được thành bằng cách dùng những kỹ thuật học từ người Trung Quốc. Đại Việt sử ký toàn thư chép quân Lê Lợi “mở đường đánh nhau với giặc, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa, súng lửa, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ.” Giống như việc quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407 báo hiệu nhà Hồ sụp đổ, việc Xương Giang vỡ cũng báo hiệu ngày tàn của quân Minh. Nếu không có hỏa lực hạng nặng, gần như không thể có chiến thắng của quân Đại Việt. Hai mươi năm sau khi Đa Bang sụp đổ, quân Đại Việt giờ đây được vũ trang tốt hơn với các loại súng mà nhiều trong đó lấy của quân Minh.
Chiếm được Xương Giang, quân Đại Việt cướp thêm được nhiều vũ khí, và họ chiếm thêm được nhiều hơn nữa khi cuối năm 1427, quân Đại Việt đánh bại 150.000 viện binh nhà Minh. Đại Việt sử ký toàn thư chép là số vũ khí mà quân Lê Lợi lấy từ viện quân nhiều gấp đôi số lượng lấy được từ Xương Giang. Khi hơn 80.000 quân và thường dân nhà Minh cuối cùng rút khỏi Đại Việt tháng Giêng 1428, chắc chắn số binh lính Minh đã bi tước vũ khí. Số lượng vũ khí cũng như người Minh còn ở lại Đại Việt sau khi quân Minh rút lui đã gây lo ngại lớn cho triều đình phương Bắc. Nhà Minh liên tục đòi Đại Việt trao trả các quan binh, và vũ khí. Về vũ khí, mặc dù chính thức thì bảo đã trả hết, nhưng Đại Việt không trả lại món nào và cuối cùng triều Minh phải từ bỏ yêu sách.
Tuy vậy, cần nói rằng Đại Việt không chỉ du nhập công nghệ quân sự mà cũng xuất khẩu một số kỹ thuật ưu việt sang Trung Quốc.
Sau khi nhà Minh chiếm Đại Việt năm 1407, họ thu lấy một loại mũi tên của người Việt (shen qiang), có thể dịch ra là “thần tiễn”. Kỹ thuật này sau đó được Trung Quốc thu nhận cho loại súng ngắn vào năm 1415.
Đóng góp của người Việt
Ngoài ra, thiết bị gảy cò súng ngắn, làm ít nhất từ năm 1410 trở đi, được cải tiến ở chỗ, thay vì một lỗ nhỏ nơi chêm kíp nổ vào, thì bây giờ là một khe hình chữ nhật có nắp thêm vào phần đằng sau của nòng súng ngắn. Nhờ thế thuận tiện hơn khi kích hoạt thuốc súng trong khe và chiếc nắp thì che cho khỏi ướt thuốc súng trong những ngày mưa. Người ta đoán rằng thiết bị này có thể được người Việt sáng chế vì mô hình đầu tiên được làm năm 1410 sau khi nhà Minh xâm lược Đại Việt, và còn vì khí hậu nhiệt đới ở Đại Việt có lẽ đã khuyến khích tạo nên sáng chế này.
Theo lệnh của vua Minh, những tù binh Việt Nam giỏi làm súng được đưa về thủ đô Nam Kinh cùng với các thợ thủ công khác. Khoảng 17.000 người Việt được đưa về Trung Quốc, trong đó có Hồ Nguyên Trừng (tên tiếng Hoa là Li Cheng). Nguyên Trừng, con trưởng Hồ Quý Ly, là người phụ trách quân cơ dưới triều Hồ. Nhờ giỏi làm vũ khí, ông thoát cảnh tù tội, được vua Minh phong đến chức Công bộ Thị Lang. Khi Nguyên Trừng qua đời ở tuổi 73, con trai ông lại tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh cho đến khi về hưu năm 1470. Cho mãi đến năm 1489, con cháu của những người này vẫn còn đang phục vụ trong triều Minh.
Trong bộ Minh Sử, hoàn thành năm 1739, có một đoạn văn nổi tiếng: “Đến thời Minh Thành Tổ, Giao Chỉ được bình định, kỹ thuật làm súng được học, một tiểu đoàn hỏa khí được đặc biệt thành lập để rèn luyện vũ khí.” Đoạn văn đã khiến nhiều người sau này tin rằng người Trung Quốc, sau khi xâm lăng Đại Việt năm 1406, đã học công nghệ hỏa khí từ người Việt. Theo tác giả Sun Laichen, vấn đề thực sự là Trung Quốc đã học thêm một số kỹ thuật mới, chứ không phải công nghệ thuốc súng, từ Đại Việt. Bộ Minh Sử có vẻ lấy thông tin từ quyển sách của Shen Defu. Theo Shen: “Triều đại chúng ta sử dụng hỏa khí để đánh rợ phương bắc, và hỏa khí này là vũ khí tốt nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, những kỹ thuật bản địa chỉ thu được khi Minh Thành Tổ bình định Giao Chỉ. Triều ta đã dùng viên tướng quốc Nguyên Trừng làm việc tại Công Bộ, phụ trách việc sản xuất các vũ khí của người Việt, và mọi kỹ thuật đều đã được nắm bắt.”
Đại Việt mở rộng về miền Tây, Nam
Dưới triều Lê Thánh Tông (1460-97), Đại Việt bước vào giai đoạn củng cố nội địa và bành trướng lãnh thổ nhanh chóng. Tháng Ba 1471, kinh đô Chà Bàn (Vijaya) của người Chàm thất thủ. Theo sử Việt Nam, hơn 30.000 người Chàm bị bắt, trong đó có vua Trà Toàn, trong lúc 40.000 người Chàm chết. Về phía người Chàm, không có bằng chứng cho thấy họ từng sử dụng hỏa khí. Một phái viên Trung Quốc đến Chămpa năm 1441 kể lại những người lính Chàm gác nơi tường thành chỉ mang theo giáo bằng tre. Một quyển từ điển Hoa-Chàm thế kỷ 15, trong phần từ vựng về vũ khí, chỉ cho người ta thấy các loại thông dụng như giáo mác. Cho mãi đến thập niên 1590, một quan sát của người Bồ Đào Nha còn viết là tuy người Chàm đã có súng, nhưng họ lại phải thuê nô lệ nước ngoài để sử dụng.
Sau khi Đại Việt đánh hạ Chămpa, nhiều láng giềng phía Tây bắt đầu gửi cống phẩm. Thế rồi năm 1479, Đại Việt tấn công thêm Ai Lao, Muong Phuan, Lan Sang. Năm 1480, quân nhà Lê lấn chiếm Nan, khu vực khi đó thuộc Lan Na. Cuối cùng, quân Đại Việt tiến xa lên đến sông Irrawaddy ở vương quốc Ava (thuộc Miến Điện ngày nay). Năm 1485, Đại Việt đưa thêm Melaka vào danh sách các nước nộp triều cống, cùng Chămpa, Lang Sang, Ayudhya và Java. Sự lớn mạnh của Đại Việt trong nửa đầu thế kỷ 15 có thể có một nguyên nhân quan trọng: đó là công nghệ vũ khí mà họ học được.
Sau triều vua Lê Thánh Tông, người Việt tiếp tục sử dụng hỏa khí với cường độ cao, tuy là kể từ đầu thế kỷ 16, các loại súng chủ yếu được sử dụng trong các cuộc tranh giành nội bộ, thay vì chống lại bên ngoài. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, các loại súng được dùng thường xuyên bởi cả hai lực lượng Mạc và Trịnh trong các năm 1530, 1555, 1557, 1578, 1589, 1591, 1592, 1593.
Từ nửa đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 19, trong phân tranh Trịnh-Nguyễn, trận Tây Sơn đánh Thanh, phân tranh Nguyễn-Tây Sơn, mặc dù người Việt vẫn sử dụng các thuật ngữ gốc tiếng Hoa để chỉ các loại hỏa khí, nhưng các loại súng kiểu Trung Quốc dần dần nhường chỗ cho kỹ thuật Tây phương. Tuy vậy, chúng vẫn không biến mất hoàn toàn. Cần nói là kỹ thuật quân sự Tây phương sau này du nhập vào Việt Nam không phải trong một khoảng chân không, mà nó được hình thành từ lớp nền Hoa-Việt từ trước đó. Cũng đáng lưu ý là người Việt, khác với nhiều nước Đông Nam Á khác như Miến Điện, có khuynh hướng không dựa vào quân đánh thuê mà vào quân bản địa. Kỹ năng hỏa khí thuần thục của người Việt có lẽ đã khiến cho việc thuê mướn thành không cần thiết.
Kết luận
Hỏa khí Trung Quốc như vậy đã vào Đại Việt khoảng năm 1390, hơn 120 năm trước khi Melaka rơi vào tay người phương Tây (Bồ Đào Nha) năm 1511. Việc chuyển giao công nghệ lại được thúc đẩy với việc chiếm đóng của quân Minh thời kì 1406-1427. Quân Minh, nhờ một phần vào ưu thế hỏa khí, đã chinh phục Đại Việt – một thành tích mà sau này không còn triều đại Trung Quốc nào lặp lại được. Tuy vậy, ưu thế hỏa khí này sau đó đã bị người Việt học hỏi và góp phần vào cuộc đánh đuổi người Minh ra khỏi Đại Việt.
Trao đổi văn hóa diễn ra hai chiều và điều này cũng áp dụng cho sự lan truyền công nghệ quân sự giữa Trung Quốc và Đại Việt. Mặc dù Đại Việt ban đầu học công nghệ thuốc súng từ Trung Quốc, người Việt cũng xuất khẩu một số kỹ thuật sang vùng đất Bắc.
Các nhà nước và dân tộc phát triển và suy thoái vì nhiều lý do. Sự sụp đổ của Chămpa có nhiều nguyên nhân, và công nghệ thuốc súng có thể là một trong nhiều yếu tố đó. Nửa cuối thế kỷ 15 là thời đại vàng son của Đại Việt, đặc biệt về mặt bành trướng ra nước ngoài. Về phía nam, Đại Việt đè bẹp Chămpa sau mấy trăm năm đối đầu để rồi từ đó trở đi Chămpa không còn sức mạnh, khiến tính chất địa chính trị của khu vực Đông Nam Á lục địa thay đổi nhiều. Về hướng tây, Đại Việt không chỉ bình ổn vùng biên giới với các dân tộc Thái, mà còn tiến lên cả sông Irrawaddy ở Miến Điện cuối thập niên 1470. Kết quả là các vương quốc ở mạn bắc của Đông Nam Á lục địa gồm Lan Sang, Chiang Mai, Sipsong Panna và Miến Điện lo ngại, đến cả nhà Minh cũng thấy cần báo động.
Có thể cho là Đại Việt đã mượn, lĩnh hội và nội hóa công nghệ quân sự Trung Quốc và dùng nó cho mục đích của mình, trong lúc Chămpa, vì những lý do chưa rõ ràng, lại không học công nghệ này và hứng chịu hậu quả. Các vương quốc khác tại Đông Nam Á, mặc dù cũng thu lấy công nghệ thuốc súng, nhưng áp dụng nó không hiệu quả như Đại Việt thế kỷ 15.
Theo BBCNEWS