Đầu Thế kỷ XVIII tình hình đất nước ta vô cùng phức tạp, chế độ phong kiến suy vong nghiêm trọng, đất nước bí chia làm 2 miền, Đàng Ngoài có Vua Lê - Chúa Trịnh thống trị, còn Đàng Trong thì Chúa Nguyễn cát cứ. Các tập đoàn phong kiến ở mọi miền ngày càng sa đoạ, đàn áp bóc lột nhân dân vô cùng tàn khốc. Nhân dân vô cùng khổ cực, Đàng Ngoài ''dân nghèo mảnh đấtt cắm dùi không có'' (Lê Cao Lãng - Lịch triều tạp kỷ). … ''dân phiêu tán dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường. . . Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi phải ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên nhau, số dân còn lại mười phần không được một'' (Việt sử thông giám cương mục). Còn Đàng Trong tình hình cũng vô cùng nghiêm trọng, vua chúa, quan lại sống xa hoa, dâm dật, bọn thống trị phong kiến ra sức bóc lột, đặt ra mọi thứ thuế nặng nề. Người nông dân sống dở, chết dở, không thể không vùng dậy.
Tình hình đất nước chia rẽ không thống nhất, chế độ phong kiến suy đồi, nhân dân khổ cực, còn mối đe doạ xâm lược từ bên ngoài lại đến từ nhiều phương, nhiều hướng, ở Thế kỷ XVIII này, các thế lực phương Tây đã tràn sang Châu Á và có mưu đồ đánh cướp nước ta. Chưa bao giờ nước ta lại rối ren cực độ, có nhiều mối đe doạ giặc ngoài xâm lược đến như thời kỳ này. Lúc này, sứ mạng lịch sử của dân tộc ta là phải bảo vệ được nền độc lập, thống nhất đất nước, phải làm cho dân đỡ khổ, phải tạo được sức mạnh để chống ngoại xâm. Tình thế này đòi hỏi phải có một phong trào cứu nước lớn mạnh, phải tập dựng được đông đảo lực tượng nhân dân, những người yêu nước trong các tầng lớp nhân dân để chiến đấu cho lợi ích sống còn của đất nước.
Trong tình hình như vậy, Nguyễn Huệ nổi bật lên là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Ông là biểu hiện sự tập trung nhiều sứ mệnh lịch sử của đương thời. Ông đã thể hiện tài năng xuất sắc trên nhiều mặt. Ông chỉ huy đánh nhiều trận, đánh nhiều loại kẻ thù.
Không chỉ là một thiên tài quân sự, công lao của người anh hùng ''áo vải” thực tế còn vươn xa hơn nữa trong vấn đề trị quốc, an dân.
Sau chiến thắng đại phá quân Thanh, Quang Trung - Nguyễn Huệ thực hiện nhiều biện pháp ngoại giao tích cực, phát triển quan hệ giao hảo Việt Nam - Trung Quốc. Tháng 3 năm Kỷ Dậu (1789) Sứ bộ Việt Nam gồm Nguyễn Quang Hiền, Võ Huy Tấn, Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử lên đường sang Yên Kinh gặp Càn Long. Vua Càn Long tiếp sứ bộ ta rất trọng hậu và ngỏ lời mời Quang Trung - Nguyễn Huệ, quốc vương Việt Nam sang thăm triều đình Yên Kinh vào năm sau (1790) nhân dịp mừng thọ Vua Càn Long tuổi 80. Sứ bộ ta nhận lời. Tháng Mười Một Âm lịch, Vua Càn Long cho sứ bộ mang chiếu phong Vương sang Thăng Long. Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ ở lại Phú Xuân, cho cháu họ ngoại là Phạm Công Trị đóng vai quốc vương ra Thăng Long nhận chiếu phong vương.
Vua Quang Trung thực hiện dựng nước theo đường lối ''Quốc phú, dân cường, Nội yên ngoại tĩnh”.
Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ hạ chiếu khuyến nông, thực hiện ''chính sách để dân giàu”, ra lệnh buộc những dân phiêu tán phải “trở về quê quán khai khẩn ruộng hoang”. Ông nêu rõ mối quan tâm của ông đối với việc này: ''Đây là chính sách buổi đầu, hướng dân chăm nghề gốc. Lệnh ban ra phải thi hành”. Nhờ Chính sách này, từ năm 1790 đến 1794 năm nào cũng được mùa, đất nước yên bình.
Để thực hiện phát triển Công thương nghiệp, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ viết thư yêu cầu Phúc An Khang ở Quảng Tây ''Mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hoá không ngưng đọng để làm lợi cho dân chúng”, để cho buôn bán và tiền tệ hai nước được lưu thông.
Vua còn hạ chiếu khuyến học, cho lập các nhà học ở các xã, phủ, huyện. Trong chiếu chỉ rõ ''dựng nước lấy dạy học làm đầu, muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc. Ông cho dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm và cho làm sách sử.
Quang Trung Nguyễn Huệ biết dùng người, quý người, trọng người hiền tài, biết dung nạp, biết động viên. Nhà vua ra chiếu cầu hiền, lời lẽ rất khiêm tốn, chân thành: "Từng nghe người hiền xử thế giống như sao sáng bầu trờii. Sao sáng tát hướng về Bắc Đẩu, người hiền tất giúp việc Thiên Tử. Nhược bằng giấu mình ẩn tiếng, có tài không dùng tài giúp đời, thì đó không phải là ý trời sinh người hiền. . .”. Tấm lòng ưu ái, tin cậy, quý người của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã thu hút được nhiều Nho sĩ, nhiều bậc hiền tài quy tụ, để cùng thau làm việc nước. Nhiều người tài của triều đình cũ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy tích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Vũ Huy Tấn, Ninh Tốn. . . đều đã hết lòng ra phục vụ triều đại Tây Sơn.
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ rất quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức lực lượng vũ trang để dẹp tan các lực lượng phản động ở Bắc Hà, giải phóng miền Gia Định khỏi ách thống trị của Nguyễn Ánh.
Trên mặt trận văn hoá, Quang Trung Nguyễn Huệ có những khai phá mới, đưa chữ Nôm thành chữ viết chính thức của Quốc gia. Ông coi trọng bảo vệ các di sản văn hoá, ý thức trân trọng truyền thống văn hoá được bộc lộ rõ và đầy đủ: ''Nay mai dựng lại nước nhà, bia ngà lại dựng trên toà muôn gian”.
Tiếc thay, ngài đột ngột qua đời ngày 16 tháng 9 năm 1792, hưởng thọ 39 tuổi, miến hiệu là Thái Võ Hoàng đế. Sau khi Người qua đời không có ai có tài năng và sách lược đủ lớn để kế thừa di nguyện của Quang Trung để lại, triều Tây Sơn suy yếu rõ rệt. Dẫu cho các quan văn-võ dưới quyền vẫn nhất mực trung thành, xả thân báo quốc. Nhưng rốt cuộc vẫn bị Nguyễn Ánh lợi dụng cơ hội này mà tàn hại nhà Tây Sơn. Dẫu cho phải chịu kết cục bi thảm nhưng tấm gương của những trung thần, nghĩa sĩ của vương triều Tây Sơn ngàn đời sách sử thơm tho, được muôn dân thờ phụng, khói hương muôn đời
-GTS-
